Thân vương Hisahito

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thân vương Hisahito
悠仁親王
Thông tin chung
Tên đầy đủ Hisahito (悠仁?)
Hoàng tộc Hoàng gia Nhật Bản
Thân phụ Thu Tiểu cung Thân vương Fumihito
Thân mẫu Thu Tiểu cung Thân Vương phi Kiko
Tôn giáo Thần đạo

Thân vương Hisahito (悠仁親王 Du Nhân thân vương?, Hisahito Shinnō) là con thứ ba và là con trai duy nhất của Thu Tiểu cung Thân vương FumihitoThu Tiểu cung Thân Vương phi Kiko[1][2] Thân vương đứng thứ ba trong thứ tự kế thừa hoàng vị của Nhật Bản. Tên húy Hisahito của Thân vương nghĩa là "yên ổn" (悠, du) và "đạo đức tốt" (仁, nhân) theo lý giải của Cung nội thính. Tên húy của thân vương do cha đặt, và ngự tiêu dùng để đánh dấu đồ đạc của thân vương là cây koyamaki (thông dù Nhật Bản).

Sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Thân vương sinh lúc 8:27 sáng (giờ chuẩn Nhật Bản) theo phương pháp mổ sinh tại bệnh viện Aiiku ở Tokyo sau các biến chứng trong thời kì mang thai, được chuẩn đoán một phần là do chứng nhau tiền đạo (placenta praevia), dẫn đến việc lâm bồn sớm hơn hai tuần. Khi sinh, thân vương nặng 2,556 kg (5 lb 10 oz). Thu Tiểu cung Thân Vương phi Kiko đã hiến huyết dây rốn cho Mạng lưới Ngân hàng máu dây rốn Nhật Bản để phục vụ cho mục đích y học.[3]

Các tờ báo Nhật Bản loan báo về việc sinh hạ Thân vương

Thân vương Hisahito là bé nam đầu tiên được sinh ra trong Hoàng gia Nhật Bản kể từ năm 1965, tức năm sinh cha của thân vương. Vào tháng 1 năm 2007, thủ tướng Nhật Bản khi dó là Shinzō Abe đã tuyên bố rằng ông sẽ ngưng một đề xuất sửa đổi điển phạm Hoàng thất nhằm cho phép nữ giới kế vị. Đề xuất được đưa ra do trên thực tế thì cả hai hoàng nam của Thiên hoàng Akihito đều không có con trai. Với việc thân vương Hisahito chào đời, dường như điển phạm sẽ không bị sửa đổi để cho phép chị họ của Thân vương Hisahito là Nội Thân vương Aiko, con gái duy nhất của Thái tử Naruhito, có thể trở thành nữ Thiên Hoàng và do đó đã chấm dứt cuộc tranh cãi kế vị tại Nhật Bản. Mặc dù trong lịch sử Nhật Bản đã từng có đến tám nữ Thiên hoàng trị vì, song họ chỉ nắm giữ vị trí này tạm thời hoặc để "trông nom". Những người kế vị các nữ Thiên hoàng hầu hết được chọn từ các nam giới thuộc các nhánh xa của hoàng tộc và họ sẽ kế vị các nữ Thiên hoàng khi đủ lớn, đó là lý do vì sao các học giả bảo thủ lập luận việc nữ giới trị vì chỉ là tạm thời và rằng truyền thống nam giới kế vị cần phải được duy trì.[4]

Kính xưng[sửa | sửa mã nguồn]

  • 6 tháng 9 năm 2006 – nay: Du Nhân thân vương Điện hạ

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Japan princess gives birth to boy”. BBC News. 6 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2006. 
  2. ^ Walsh, Bryan (5 tháng 9 năm 2006). “Japan Celebrates: It's a Boy!”. Time. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2006. 
  3. ^ “Imperial baby joins his mother”. The Japan Times. 8 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2006. 
  4. ^ "Life in the Cloudy Imperial Fishbowl," Japan Times. 27 March 2007.