Trường Đại học Thủy lợi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phù hiệu trường
Tên gọi khác Học viện Thủy Lợi Điện lực (tên cũ)
Thành lập 1959
Loại hình Đại học kĩ thuật
Hiệu trưởng GS TS Tạ Phạm Quang Minh
Địa chỉ Số 175 Tây Sơn, Q. Đống Đa, Hà Nội, Việt Nam
Trang mạng www.wru.edu.vn

Trường Đại học Thủy Lợi là trường đại học hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực đào tạo kĩ sư về quản trị nguồn nước và nhiều ngành khác. Trường được thành lập năm 1959.

Tiềm lực[sửa | sửa mã nguồn]

Là trường đại học chuyên ngành duy nhất ở Việt Nam đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao về lĩnh vực thủy lợi, thủy điện và tài nguyên nước phục vụ cho các ngành công nghiệp, nông nghiệp, dân sinh kinh tế và phát triển nông thôn trên phạm vi cả nước.

Đội ngũ cán bộ bao gồm:

Nhà trường luôn tạo điều kiện cho các giáo viên trẻ đi học Thạc sĩ, Tiến sĩ ở nước ngoài bằng các nguồn vốn: ngân sách, tài trợ của các dự án, hợp tác giữa các trường. Từ nay đến 2010 hàng năm có thể có từ 20 đến 30 người được đi học nước ngoài. Tất cả các giáo viên của trường đang học Thạc sĩ, Tiến sĩ trong nước đều phải gửi đi học ở nước ngoài ít nhất 1 năm, để tăng cường vốn ngoại ngữ và kinh nghiệm tổ chức học tập, giảng dạy của nước ngoài. Những ngưòi đã học trên đại học trong nước, trường có kế kế hoạch cho đi thực tập nước ngoài từ 1 năm trở lên.

Cán bộ giáo viên của trường tham gia nhiều hội đồng Khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ hay cấp ban, tiểu ban tư vấn, kiểm tra, thẩm định, đánh giá, nghiệm thu các đề tài khoa học công nghệ (KHCN), được nhiều tổ chức trong và ngoài nước đánh giá cao.

Chiến lược phát triển nguồn nhân lực Trường chỉ rõ mục tiêu đối với đội ngũ giảng viên đạt các chuẩn:

  • Tỉ lệ cán bộ giảng dạy/ sinh viên 1:15
  • Trình độ: 55% trình độ Thạc sỹ, 40% tiến sỹ, số lượng này đều có khả năng giảng dạy và giao tiếp bằng tiếng Anh.

Cơ sở vật chất[sửa | sửa mã nguồn]

Cho đến nay, về cơ sở vật chất nhà trường hiện có: 9,78 ha khuôn viên; 6700 m² phòng học; 27 cơ sở thí nghiệm thực hành với 5713 m²; 8900 m² ký túc xá; 1089 m² thư viện; 8222 m² giáo dục thể chất. Các hạng mục công trình luôn được nâng cấp và xây mới theo quy hoạch tổng thể của trường.

Phòng học và Phòng thí nghiệm[sửa | sửa mã nguồn]

Trường có trên 50 phòng học, 2 hội trường lớn sức chứa 1000 người, âm thanh ánh sáng hiện đại. Nhà trường đã đầu tư xây dựng được 9 giảng đường chuyên dùng, lắp tổng cộng trên 100 chiếc bảng di động và màn chiếu tại giảng đường, các khoa được trang bị máy chiếu phục vụ kịp thời cho công tác cải tiến giảng dạy đạt hiệu quả cao. Có khu thí nghiệm thủy lực hiện đại, 10 phòng thí nghiệm độc lập, 6 cơ sở thí nghiệm khác. Những thiết bị mới được trang bị trong những năm gần đây đều đạt hiệu suất sử dụng cao, phục vụ đắc lực cho công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ sản xuất, đặc biệt phòng thí nghiệm địa kỹ thuật đã được cấp giấy chứng nhận LAS[cần dẫn nguồn] tạo điều kiện thuận lợi trong việc hoạt động khoa học công nghệ của Nhà trường.

Thư viện[sửa | sửa mã nguồn]

Được đưa vào sử dụng từ giữa năm 2006, thư viện Trường Đại học Thủy lợi rộng 2294 m² được đầu tư lớn về trang thiết bị, máy móc đang nhanh chóng phát triển theo hướng tin học hoá, hiện đại hoá. Là một bộ phận hữu cơ trong cơ cấu tổ chức đào tạo của Nhà trường, phục vụ quá trình đào tạo sinh viên Đại học, Cao học và Nghiên cứu sinh; góp phần phục vụ đào tạo lại; nâng cao trình độ chuyên môn của các cán bộ giảng dạy và nghiên cứu, hiện Thư viện có khoảng 40.000 đầu sách các loại, trên 50 đầu báo, tạp chí cùng hơn 70 máy tính cấu hình cao, với đường truyền Internet ADSL phục vụ cho các nhu cầu học tập, nghiên cứu của cán bộ, giáo viên, sinh viên.

Kí túc xá[sửa | sửa mã nguồn]

Khu kí túc xá gồm có 2 toà nhà 11 tầng với 300 phòng trang bị hiện đại và 4 dãy nhà 3 tầng gồm 270 phòng ở có đủ điều kiện sử dụng tốt. Trong phòng có giường tầng, công trình phụ khép kín. Nguồn điện nước và các dịch vụ hỗ trợ đầy đủ, hợp lý, thuận tiện cho học viên từ các tỉnh xa về học tập tại trường. Đời sống tinh thần của học viên, sinh viên phong phú với các hoạt động thể dục thể thao, văn hóa văn nghệ. Môi trường xã hội lành mạnh ổn định, trật tự an toàn kỷ cương được đảm bảo tốt giúp học viên yên tâm học tập và công tác.

Khu Giáo dục thể chất[sửa | sửa mã nguồn]

Khu Giáo dục thể chất là một quần thể hiện đại đa chức năng với sân bóng, bể bơi, sân tennis, nhà thi đấu... thường xuyên mở cửa cho gần 200.000 lượt sinh viên, cán bộ học tập và rèn luyện sức khoẻ mỗi năm. Hiện nay nhà thi đấu đa năng đang được gấp rút hoàn thành.

Trung tâm Tin học[sửa | sửa mã nguồn]

Thực hiện công tác tin học hoá toàn trường, quản trị và điều hành hạ tầng mạng và các hệ thống thông tin, quản trị điều hành chính chính tin học trong trường. Với 5 phòng máy, mỗi phòng gần 100 máy tính có thể truy cập Internet, trung tâm tin học đáp ứng tốt nhu cầu học tập của sinh viên và là nơi triển khai các chương trình thuộc các dự án liên kết đào tạo giữa trường Đại học Thủy lợi với các tổ chức trong và ngoài nước.

  • Cơ sở hạ tầng mạng: Trường Đại học Thủy lợi đã xây dựng được một hệ thống mạng nội bộ mạnh với hệ thống mạng lõi campus chủ yếu là thiết bị của Cisco tốc độ #Gigabit trên giây|Mbps]], có trên 100 switches và gần 1000 nút mạng. Hệ thống kết nối Internet trực tiếp (leaseline) 40 Mbps phục vụ hệ thống Portal, e-mail và hệ thống bài giảng trực tuyến và đường truyền Internet gián tiếp, ADSL phục vụ nhu cầu khai thác Internet của toàn thể cán bộ, giáo viên và sinh viên nhà trường.

Trạm Y tế[sửa | sửa mã nguồn]

Trạm y tế có 4 phòng, 2 giường, 1 bàn khám bệnh và đầy đủ trang thiết bị cho một trạm y tế. Đây là nơi quản lý hồ sơ chăm sóc sức khoẻ ban đầu, định kỳ và theo dõi sức khoẻ lâu dài cho hàng ngàn lượt sinh viên và cán bộ công nhân viên trường mỗi năm. Ngoài ra hàng năm trạm y tế còn phối hợp và kết hợp với trạm y tế dự phòng thành phố Hà Nội, quận Đống Đa và phường Trung Liệt phát động nhiều phong trào phòng tránh dịch bệnh, giữ vệ sinh chung và kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường.

Hạ tầng cơ sở đóng góp một vai trò hết sức quan trọng vào bề dày gần 50 năm phát triển của Trường Đại học Thủy lợi. Cơ sở vật chất ngày một đầy đủ, khang trang, sạch đẹp hơn, từng thế hệ sinh viên trưởng thành từ mái trường này tự hào về Trường Đại học Thủy lợi, ngôi trường không ngừng đổi mới để hội nhập.

Đào tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay, trường Đại học Thủy lợi đang đào tạo gần 10.000 sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh mỗi năm, trong đó:

Hệ Đại học
  • 2.600 sinh viên chính quy;
  • 700 sinh viên tại chức;
  • Hàng trăm kỹ sư bằng hai;
  • Trên 300 sinh viên hệ cử tuyển và cao đẳng
  • Các chuyên ngành đào tạo đại học bao gồm
  1. Kỹ thuật Công trình;
  2. Công nghệ kỹ thuật xây dựng;
  3. Kỹ thuật xây dựng công trình giao thông;
  4. Kỹ thuật xây dựng công trình thủy;
  5. Kỹ thuật xây dựng công trình dân dụng và công nghiệp;
  6. Địa kĩ thuật và xây dựng công trình ngầm
  7. Kỹ thuật Thủy điện và Năng lượng tái tạo;
  8. Kỹ thuật điện;
  9. Cấp thoát nước;
  10. Kỹ thuật hạ tầng và Phát triển nông thôn;
  11. Thủy văn và Tài nguyên nước;
  12. Kỹ thuật Tài nguyên nước;
  13. Công nghệ thông tin;
  14. Kinh tế tài nguyên thiên nhiên;
  15. Kỹ thuật cơ khí;
  16. Kỹ thuật môi trường;
  17. Kỹ thuật bờ biển;
  18. Kỹ thuật biển (bắt đâu đào tạo trong năm 2008);
  19. Địa kỹ thuật(bắt đâu đào tạo trong năm 2008);
  20. Khí tượng(bắt đâu đào tạo trong năm 2008);
  21. Quản lý và giảm nhẹ thiên tai;
  22. Quản lý tài nguyên thiên nhiên(bắt đâu đào tạo trong năm 2008);
  23. Quản trị kinh doanh
Hệ sau Đại học
  • 100 - 200 học viên cao học;
  • 10 - 20 nghiên cứu sinh
  • Các chuyên ngành đào tạo sau đại học
  1. Cơ học vật thể rắn;
  2. Cơ học chất lỏng;
  3. Thủy văn học;
  4. Phát triển nguồn nước;
  5. Chỉnh trị sông và bờ biển;
  6. Xây dựng công trình thủy;
  7. Địa kỹ thuật xây dựng;
  8. Cấp thoát nước;
  9. Vật liệu và công nghệ vật liệu xây dựng;
  10. Tưới tiêu cho cây trồng;
  11. Quy hoạch và quản lý tài nguyên nước;
  12. Môi trường đất và nước;
  13. Công nghệ môi trường nước và nước thải.

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Khuôn viên trường Đại học Thủy lợi
Nhà A1 - Khu văn phòng giáo viên

Năm 2004 nhà trường đã ban hành chương trình đào tạo của 9 ngành với 19 chuyên ngành với tổng số giờ là 270 đơn vị học trình.

Trường bao gồm các khoa sau:

  • Khoa Kỹ Thuật Công Trình;
  • Khoa Công nghệ Thông tin;
  • Khoa Thủy văn và Tài nguyên Nước;
  • Khoa Môi trường;
  • Khoa Kỹ thuật Tài nguyên nước;
  • Khoa Cơ khí;
  • Khoa Thủy điện và Năng lượng tái tạo;
  • Khoa Kinh tế và Quản lý;
  • Khoa Kỹ thuật Biển;
  • Khoa Kỹ thuật Cơ sở hạ tầng;
  • Khoa Lý luận chính trị;
  • Khoa Tại chức.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trải qua hơn 50 năm xây dựng và phát triển, trường Đại học Thủy lợi đã phát triển qua các thời kỳ với những nét đặc trưng cơ bản sau:

Giai đoạn 1959-1965[sửa | sửa mã nguồn]

Học viện Thủy lợi Điện lực được thành lập năm 1959 với 3 nhiệm vụ là đào tạo kỹ sư, đào tạo kỹ thuật viên và nghiên cứu khoa học. Năm 1959, Học viện khai giảng lớp chuyên tu đại học khoá 1 có 80 sinh viên, tuyển sinh khoá 1 hệ chính quy với 100 sinh viên. Năm 1961, đã tổ chức đào tạo tại chức ban đêm. Tháng 6/1961 lớp Đại học Chuyên tu khoá 1 bảo vệ Đồ án tốt nghiệp. Tháng 1/1963 chia tách học viện Thủy lợi Điện lực ra thành 4 đơn vị là Trung cấp điện, Trung cấp Thủy lợi, Viện Nghiên cứu khoa học Thủy lợi và Trường đại học Thủy lợi.

Tháng 7/1963 lớp chính quy khoá 1 bảo vệ thiết kế tốt nghiệp. Năm 1964 chỉ tiêu tuyển sinh tăng lên đến hơn 340 sinh viên. Bước đầu hình thành 3 ngành đào tạo: Thủy công, Thủy nông, Thủy văn. Các phòng thí nghiệm được lắp đặt: Sức bền vật liệu, Thủy lực, Thủy công, Thủy điện, Cơ đất... Năm 1965 nhà hành chính được xây dựng hoàn thành, với nhiều phòng học và phòng thí nghiệm phục vụ giảng dạy.

Giai đoạn 1965-1975[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 6/1965 trường sơ tán lên vùng núi xã Nghĩa Phương, thuộc huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Các khoá 7, 8, 9, 10, 11 tập trung tại Lục Nam, Trường làm lễ tốt nghiệp cho các khoá 5, 6, 7 với gần 1000 kỹ sư. Năm 1970 trở về Hà Nội, năm 1972 Trường đi sơ tán lần thứ 2 tại Việt Yên, Hiệp Hoà tỉnh Bắc Giang và một số nơi khác. Khoá 14 được tập trung tại Việt Yên và Hiệp Hoà. Quy mô tuyển sinh 300–400 sinh viên mỗi khoá.

Ngoài các ngành Thủy công, Thủy nông, Thủy văn nhà trường đã mở thêm một số ngành mới: Năm 1965 mở ngành Thủy điện (khoá 7). Năm 1966 mở thêm ngành Cơ khí Thủy lợi (khoá 8). Năm 1967 mở thêm ngành Thi công (khoá 9). Hình thức đào tạo tại chức được mở rộng, tuyển sinh hàng năm 100 sinh viên.

Giai đoạn 1975-1985[sửa | sửa mã nguồn]

Trường đã sắp xếp tổ chức lại ngành nghề đào tạo theo hướng diện rộng, chuyên môn hoá hợp lý bao gồm:

  • Công trình Thủy lợi;
  • Thủy văn và kỹ thuật môi trường;
  • Thủy năng và Trạm Thủy điện;
  • Thủy nông và Cải tạo đất;
  • Cơ khí Thủy lợi;
  • Kinh tế Thủy lợi.

Tháng 6/1984 Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp đã ra Quyết định chính thức phê duyệt chương trình đào tạo được điều chỉnh và thực hiện từ năm 1984.

Những năm 1980 do tác động của xã hội chỉ tiêu tuyển sinh hệ chính quy giảm, thí sinh thi vào trường ít; nhưng trường đã phát triển số lượng sinh viên hệ tại chức; ngoài đào tạo tại chức tại cơ sở chính của trường, trường đã tổ chức mở các lớp tại chức tại các địa phương.

Đây là thời kỳ thực hiện công tác kết hợp giảng dạy học tập và nghiên cứu khoa học & phục vụ sản xuất trong phạm vi cả nước, là bước ngoặt quan trọng của Trường Đại học Thủy lợi. Trường đã thành lập các đoàn ĐH1 ở thành phố Hồ Chí Minh, ĐH2 ở các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, ĐH3 ở thành phố Cần Thơ với hàng trăm lượt sinh viên năm cuối cùng các giáo viên phục vụ điều tra, đánh giá quy hoạch, khai thác sử dụng tổng hợp và quản lý tài nguyên nước cho các tỉnh phía Nam. Đẩy mạnh công tác hoàn chỉnh, đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào phục vụ công tác thủy lợi ở phía Bắc.

Trường đã mở các lớp bồi dưỡng sau đại học về Cơ học công trình, Kỹ thuật và tổ chức thi công, Chỉnh trị sông, Thủy lực – thủy văn, Quản lý kinh tế..., ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

Năm 1979, trường được chính thức công nhận là một cơ sở đào tạo Sau đại học. Sự kiện này đánh dấu một bước chuyển biến mới về chất trong nhà trường. Hoạt động chủ yếu của đào tạo sau đại học trong thời kỳ này là đào tạo Phó tiến sĩ (PTS), đến năm 1984 đã có 6 người bảo vệ thành công luận án PTS.

Đây cũng là giai đoạn Nhà trường phát triển mối quan hệ những mối quan hệ quốc tế có hiệu quả với nhiều trường ở Liên Xô (cũ) với các nước Đông Âu, Lào, Ấn Độ, Hà Lan...

Giai đoạn 1985 đến nay[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là giai đoạn có nhiều hoạt động cho việc đổi mới sự nghiệp giáo dục, Nhà trường đã đạt được một số kết quả nhất định. Thực hiện đổi mới mục tiêu, chương trình đào tạo của nhà trường được dựa trên cơ sở nắm bắt kịp thời những đổi mới về nhận thức đối tương phục vụ. Khái niệm về thủy lợi được chuyển dần sang khái niệm khai thác tài nguyên nước với nội dung phục vụ đa dạng, tổng hợp hơn và mang tính liên ngành ngoài các ngành đã có như Thủy nông, Thủy công, Thủy văn, Thủy điện mà còn Môi trường, Cải tạo đất, Kinh tế, Máy xây dựng và Thiết bị Thủy lợi, Thủy điện,... Từ năm 1985 mục tiêu đào tạo cơ cấu ngành nghề đã được mở rộng và ngày càng hoàn thiện với 7 ngành 9 chuyên ngành.

Năm 1995 với việc sát nhập 3 Bộ: Bộ Nông nghiệp, Bộ Lâm nghiệp, Bộ Thủy lợi đã đưa sự nghiệp phát triển thủy lợi nước ta ở một tầm cao mới: Phát triển bến vững trong một môi trường Đất – Nước – Rừng gắn kết hữu cơ với nhau trong một nền nông nghiệp sinh thái. Trường Đại học Thủy lợi đã xây dựng chương trình trình hai bộ duyệt 9 ngành 20 chuyên ngành nhằm phủ kín nội dung hoạt động về kỹ thuật tài nguyên nước ở nước ta. Dù là một trường chuyên ngành nhưng việc đào tạo của nhà trường đã đang bắt đầu mang tính liên ngành đa lĩnh vực.

Danh hiệu[1][sửa | sửa mã nguồn]

  • Huân chương Hồ Chí Minh (2004)
  • Huân chương Độc lập hạng ba (1989), hạng nhì (1978), hạng nhất (1999 và 2009)
  • Huân chương Lao động hạng nhất (1984), hạng nhì (1978), hạng ba (1960 và 1976)
  • Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới (2000)
  • Huân chương lao động hạng Nhất do nhà nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tặng năm 2000 và 2008

Hiệu trưởng qua các thời kỳ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kỹ sư Trần Đăng Khoa (bộ trưởng), Giám đốc Học viện Thủy lợi – Điện lực, 1959-1963;
  • Đào Văn Trịnh, Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi, 1963-1670;
  • Nguyễn Đình Thâu, Quyền Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi, 1970-1973;
  • GS. TS Nguyễn Văn Cung., Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi, 1974-1981;
  • GS. TS. Nguyễn Xuân Bảo, Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi, 1981-1999;
  • GS. TS. Lê Kim Truyền, Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi, 2000-2005;
  • GS. TS. Đào Xuân Học, Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi, 2005-2008;
  • GS. TS. Nguyễn Quang Kim, Hiệu trưởng Trường Đại học Thủy lợi, 2008-

Ban giám hiệu hiện nay[sửa | sửa mã nguồn]

  • GS.TS. Nguyễn Quang Kim: Hiệu trưởng, Bí thư Đảng Ủy;
  • PGS.TS. Nguyễn Trung Việt: Phó Hiệu trưởng;
  • PGS.TS. Trần Viết Ổn: Phó Hiệu trưởng;
  • PGS.TS. Trịnh Minh Thụ: Phó hiệu trưởng.
  • PGS.TS. Nguyễn Cảnh Thái: Phó Hiệu trưởng

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]