Trường Cao đẳng Cơ điện và Nông nghiệp Nam Bộ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trường Cao đẳng Cơ điện & Nông nghiệp Nam Bộ
Logotruong.gif
Thành lập 1969
Loại hình Công lập
Hiệu trưởng Ths.Lê Thái Dương
Địa chỉ phường Phước Thới, Quận Ô Môn, TP Cần Thơ, Việt Nam
Điện thoại +84-0710. 3862067
Trang mạng cea.edu.vn

Trường Cao đẳng Cơ điện & Nông nghiệp Nam Bộ, tiền thân là Trường Công nhân Cơ khí TW2, được thành lập theo Quyết định số 35 QĐ/TC ngày 26.04.1969 của Bộ trưởng Bộ Nông trường, đến nay đã hơn 40 năm. Trải qua 4 thập kỷ, bằng quyết tâm và nghị lực, với nhiệt huyết và sự nỗ lực vượt khó của các thế hệ cán bộ giáo viên và học sinh, dưới sự lãnh đạo toàn diện của Bộ NN&PTNT, sự giúp đỡ quý báu của bộ, ngành TW, ĐU/ BGĐ Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long, các cấp chính quyền địa phương TP. Cần Thơ và các tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Cửu Long, sự phối hợp nhiều mặt của cơ quan hữu quan và đơn vị bạn, trường đã đạt được những thành tựu to lớn và rất đáng tự hào trong công tác đào tạo, xây dựng đội ngũ, xây dựng cơ sở vật chất và trong nghiên cứu cải tiến, ứng dụng tiến bộ KHCN vào giảng dạy và sản xuất, góp phần tích cực đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng sự nghiệp CNH - HĐH các tỉnh/TP. khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

LỊCH SỬ[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn đầu thành lập 1969 - 1979[sửa | sửa mã nguồn]

Trên quê hương đất tổ Hùng Vương, tại địa điểm ban đầu xã Thiện Kế huyện Bình Xuyên tỉnh Vĩnh Phú, với tên gọi Trường Công nhân Cơ khí nông trường, sau đổi thành Trường Công nhân Cơ khí nông nghiệp 2 TW, theo Quyết định số 126 NN-CK/QĐ ngày 26.03.1974 của Ủy ban Nông nghiệp TW. Trường có chức năng nhiệm vụ là đào tạo công nhân kỹ thuật (CNKT) và cán bộ quản lý phục vụ ngành cơ giới hoá nông nghiệp, chủ yếu là cung cấp cán bộ và CNKT cơ điện phục vụ cho các nông trường quốc doanh, các hợp tác xã nông nghiệp, các trạm đội cơ khí ở các tỉnh phía Bắc, với quy mô đào tạo 250 học sinh.

Giai đoạn từ 1979 - 1997[sửa | sửa mã nguồn]

Nhằm tăng cường đào tạo nguồn nhân lực cho các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, tháng 8.1979 Bộ Nông nghiệp đã quyết định chuyển Trường Công nhân Cơ khí Nông nghiệp II TW vào đóng tại xã Phước Thới, huyện Ô Môn, tỉnh Hậu Giang (nay là phường Phước Thới, quận Ô Môn, TP. Cần Thơ). Với chức năng nhiệm vụ đào tạo cán bộ và CNKT cơ điện phục vụ cho các nông trường quốc doanh, các trạm, đội cơ khí nông nghiệp, các nhà máy mía đường ở các tỉnh trong khu vực, với quy mô đào tạo tăng từ 300 học sinh năm 1979 đến 500 học sinh năm 1997.

Giai đoạn 1997 - 2005[sửa | sửa mã nguồn]

Do yêu cầu đào tạo nhân lực cho ngành nông nghiệp theo hướng chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đặc biệt là CNH-HĐH nông nghiệp - nông thôn, Trường đổi tên thành Trường Dạy nghề Nông nghiệp và PTNT Nam Bộ, được thành lập theo Quyết định số 986 NN-TCCB/QĐ ngày 23.05.1997 của Bộ Nông nghiệp và PTNT. Với chức năng đào tạo 12 nghề thuộc các nhóm nghề Cơ điện, Kỹ thuật nông nghiệp, Chế biến nông sản thực phẩm, quy mô đào tạo: 1.500 học sinh.

Giai đoạn 2005 - 2008[sửa | sửa mã nguồn]

Với sự phát triển xã hội thì yêu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao là điều tất yếu, do đó Trường được nâng cấp lên thành Trường Trung học Cơ điện và KTNN Nam Bộ theo Quyết định số 335 QĐ/BNN-TCCB ngày 16.02.2005 của Bộ Nông nghiệp và PTNT, với 7 ngành đào tạo TCCN và 12 nghề đào tạo thuộc các nhóm ngành nghề Cơ điện, Kỹ thuật nông nghiệp, Chế biến nông sản thực phẩm và Kế toán doanh nghiệp, quy mô đào tạo: 2.500 với 1.000 học sinh THCN và 1.500 học sinh Trung cấp nghề. gloiutgoithu Như vậy, qua 40 năm, từ một trường khi mới thành lập chỉ đào tạo duy nhất 01 nghề bậc CNKT, đến nay Trường đã có năng lực đào tạo đa cấp đa ngành nghề gồm: 7 ngành TCCN, 12 nghề TCN, tới đây sẽ đào tạo 6 ngành bậc cao đẳng và 5 nghề bậc cao đẳng nghề. Quy mô đạt hơn 3.000 hs.

Có thể nói rằng, 40 năm qua, trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù ở phía Bắc hay đóng ở đồng bằng sông Cửu Long, trong chiến tranh cũng như trong hòa bình, với tên gọi khác nhau và nhiệm vụ ngày một tăng qua các thời kỳ, song Trường Cao đẳng Cơ điện và Nông nghiệp Nam Bộ hôm nay luôn là một tập thể đoàn kết, vượt qua mọi khó khăn thách thức, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Bộ giao. Quy mô được mở rộng, chất lượng đào tạo ngày một nâng cao, uy tín và vị thế của trường trong khu vực được khẳng định. Tự hào với truyền thống 40 năm xây dựng và trưởng thành, trước nhu cầu về đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn khu vực đồng bằng sông Cửu Long, nhận thức một cách sâu sắc và toàn diện vai trò, nhiệm vụ của trường trong thời kỳ mới, BGH cũng như Thầy và trò của trường sẽ quyết tâm xây dựng trường không ngừng phát triển, xứng đáng là một trường trọng điểm đào tạo nguồn nhân lực cho các tỉnh trong khu vực, đặc biệt nguồn lao động kỹ thuật trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn.

ĐÀO TẠO[sửa | sửa mã nguồn]

CƠ SỞ VẬT CHẤT

- Tổng diện tích đất sử dụng của nhà trường: 157.234,9 m² - Diện tích sử dụng cho các hạng mục sau: 16189m²

 Nơi làm việc: 2513 m²; Nơi học: 7280m²; Nơi vui chơi giải trí: 5610m².

- Diện tích phòng học:

 Tổng diện tích phòng học: 4333m²
 Tỷ lệ diện tích phòng học trên sinh viên/học sinh chính quy:1,05m²/HSSV

- Tổng số đầu sách trong thư viện của nhà trường 1996 (10424 cuốn)

CÔNG TÁC ĐÀO TẠO

Từ 1 trường khi mới thành lập chỉ đào tạo duy nhất 1 nghề bậc CNKT, đến nay Trường cao đẳng Cơ điện và Nông nghiệp Nam Bộ đã có năng lực đào tạo đa cấp đa ngành gồm: đào tạo 07 ngành bậc cao đẳng, 07 ngành TCCN, 12 nghề TCN và 05 nghề bậc cao đẳng nghề. Quy mô đạt hơn 4.500 HSSV.

Bên cạnh công tác đào tạo hệ chính quy, nhà trường còn thực hiện đào tạo bồi dưỡng, nâng bậc và tổ chức đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ năm 1998 tại các tỉnh, TP: Cần Thơ, Sóc Trăng, Trà Vinh, Đồng Tháp, An Giang, Hậu Giang với quy mô khoảng 2.000 học viên/năm ở 30 chuyên ngành về nông nghiệp, cơ điện, Kinh tế và chế biến nông sản thực phẩm.

Kết hợp với các Doanh nghiệp, các Trung tâm dạy nghề và giới thiệu việc làm trong quy trình Tuyển sinh, Đào tạo 2 giai đoạn và Giới thiệu việc làm, cách làm này có hiệu quả cao nhờ: - Học sinh được tuyển trên cơ sở nhu cầu phát triển KT-XH của địa phương và được tư vấn hướng nghiệp khá tốt; - Người học được học giai đoạn 1 chủ yếu là môn chung và lý thuyết, khoảng 2 – 4 tháng tại địa phương, giai đoạn 2 rút học sinh về trường để thực hiện phần còn lại của chương trình; - Sau khi tốt nghiệp, địa phương và trung tâm có trách nhiệm tư van và giải quyết việc làm. (Mô hình huyện Cờ Đỏ – Cần Thơ, huyện Thanh Bình, Tam Nông, Tân Hồng, Lấp Vò – Đồng Tháp, huyện Bình Minh, Tam Bình, Mang Thít, Vũng Liêm – Vĩnh Long, UBND Thị xã Trà Vinh; Trung tâm Giới thiệu việc làm Đồng Tháp, An Giang, Sóc Trăng, Hội Nông dân Cần Thơ, Hậu Giang, An Giang, Công ty mía đường Cần Thơ, Cấp thoát nước Cần Thơ, Hậu giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, Xây lắp điện Cần Thơ, Nông trường Sông Hậu...) Hàng năm lãnh đạo trường thực hiện đối thoại trực tiếp với học sinh và tổ chức các buổi tư vấn giới thiệu việc làm vào thời điểm phù hợp vừa để tạo điều kiện cho học sinh sau tốt nghiệp tiếp cận thông tin thị trường lao động, có nhiều cơ hội trong lựa chọn việc làm phù hợp với năng lực nghề nghiệp và hoàn cảnh gia đình. Đồng thời nó cũng thúc đẩy việc học tập rèn luyện của học sinh đang học cũng như có tác dụng tích cực cho công tác tuyển sinh. Kết quả Trường đã đào tạo 22.530 CB, CNKT và dạy nghề cho nông dân, trong đó: 805 TCCN, 10.786 CNKT, ngắn hạn và dạy nghề cho nông dân 9.934 người, liên kết đào tạo 1.005 (với 74 ĐH, 931 TCCN). Hơn 85% học sinh tốt nghiệp có việc làm, nhiều học sinh của trường đã thành đạt trở thành cán bộ chủ chốt của ban ngành cấp tỉnh, huyện, là giám đốc, chủ các doanh nghiệp sản xuất có hiệu quả, là những CNKT, CBKT có kiến thức và tay nghề giỏi đang đóng góp tích cực cho sự phát triển KTXH các tỉnh đồng bằng SCL. Đó là niềm tự hào, là vinh dự của tập thể nhà trường.

Quy mô của Trường

Nhà trường thực hiện đào tạo: 1. Cao đẳng kỹ thuật chính qui 2. Cao đẳng hệ VLVH 3. Cao đẳng nghề 4. Trung cấp chuyên nghiệp 5. Trung cấp chuyên nghiệp hệ VLVH 6. Trung cấp nghề 7. Đào tạo liên thông từ trung cấp chuyên nghiệp lên cao đẳng chính qui.

Với qui mô đào tạo hơn 4.500 HSSV chính qui tại trường, Nhà trường còn liên kết thực hiện đào tạo với các trường cao đẳng, đại học ở địa phương.

LIÊN KẾT NGOÀI[sửa | sửa mã nguồn]