Trần Thị Dung

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trần Thị Dung
Hoàng hậu nhà Lý
Tại vị 1216 - 1224
Tiền nhiệm An Toàn hoàng hậu Đàm thị
Kế nhiệm Hoàng hậu cuối cùng nhà Lý
Công chúa nhà Trần
Tại vị 1226 - 1259
Thông tin chung
Phu quân Lý Huệ Tông
Trần Thủ Độ
Tước hiệu Thái tử phi
Nguyên phi
Ngự nữ
Thuận Trinh phu nhân
Thuận Trinh hoàng hậu
Thái thượng hoàng hậu
Thiên Cực công chúa
Thụy hiệu Linh Từ hoàng hậu
靈慈皇后
Triều đại Nhà Trần
Thân phụ Trần Lý
Sinh ?
Mất 1259
Việt Nam

Trần Thị Dung (chữ Hán: 陳氏庸, ? - 1259), là hoàng hậu cuối cùng của nhà Lý, vợ vua Lý Huệ Tông, mẹ nữ hoàng duy nhất trong lịch sử Việt NamLý Chiêu Hoàng.

Sau khi Lý Huệ Tông mất, bà trở thành vợ thái sư Trần Thủ Độ nhà Trần.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Trần Thị Dung vốn có tên là Trần Thị Ngừ [1][2]. Do họ Trần xuất thân chài lưới nên thường đặt tên theo tên các loài cá. Bà người thôn Gia Lưu, Hải Ấp (nay là làng Lưu Xá, xã Canh Tân, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Bà là con gái của Trần Lý, em gái của Trần ThừaTrần Tự Khánh, tức là cô ruột của Trần Thái Tông.

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Thái tử phi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1209, đời Lý Cao Tông, khi xảy ra loạn Quách Bốc, thái tử Lý Sảm chạy về miền Hải Ấp quê bà, nương nhờ cha bà là Trần Lý. Thái tử nhìn thấy Trần Thị có nhan sắc nên rất thích, biết ý nên cha bà tạo cơ hội để bà gần gũi với Thái tử hơn.

Trần Lý và cậu ruột bà là Tô Trung Từ muốn nhân cơ hội giúp nhà Lý để phát triển thế lực nên gả bà cho thái tử Sảm và tập hợp lực lượng tham gia dẹp Quách Bốc. Trong lần chiến dẹp loạn này, cha bà là Trần Lý bị thiệt mạng, quân đội họ Trần đều nằm trong tay Tô Trung Từ.

Sắc phong Nguyên phi[sửa | sửa mã nguồn]

Cao Tông được rước về kinh thành Thăng Long. Cao Tông bệnh nặng, muốn đón thái tử Lý Sảm về kinh, Tô Trung Từ bèn giả mang quân bản bộ đi đánh quân phiến loạn ở Khoái Châu, nhân đó Trung Từ về Hải Ấp nắm lấy thái tử Sảm, gạt bỏ khỏi tay hai anh em Trần Tự Khánh và Trần Thừa khiến họ Tô và họ Trần có hiềm khích từ đó. Vì Thái tử bị cướp đi đột ngột, Trần Thị Dung cũng theo đó bị bỏ lại ở Hải Ấp.

Không lâu sau, năm 1210, Cao Tông qua đời lúc 38 tuổi. Thái tử Lý Sảm (李旵) lên ngôi, tức Lý Huệ Tông, lúc ấy mới 16 tuổi. Huệ Tông cho lão thần Đỗ Kính Tu làm Thái úy phụ chính. Huệ Tông vừa lên ngôi thì sai người đi đón Trần Thị Dung về kinh sư, nhưng Trần Tự Khánh lại không cho, vì hiềm khích với Tô Trung Từ vẫn còn đó.

Trần Lý đã chết, Tô Trung Từ nắm binh quyền thế lực Hải Ấp, giết chết Đỗ Kính Tu. Các tướng Đỗ Quảng, Đỗ Thế QuiPhí Lệ cùng nhau mưu lập đánh Trung Từ. Trung Từ biết thế quân của mình nhỏ hơn liên quân của họ, bèn lập mưu kế lừa gạt, vờ hòa hoãn với họ mà đang đêm tăng cường binh sĩ mưu trừ. Rồi ông cho tùy tướng Đào Phán bất ngờ ùa binh đánh lên diệt bọn Đỗ Quảng, Phí Lệ. Bọn họ xung phong tiến đánh quân của Đào Phán và chạy thoát được, Phán bèn đánh úp Đỗ Thế Qui, bắt được Qui và Qui bị tùng xẻo ở giữa chợ trời.

Huệ Tông sợ hãi, vội phong Trung Từ làm Thái úy phụ chính, ban tước Vương. Năm 1211, lại sai người đi đón Trần Thị Dung. Lần này thì Trần Tự Khánh đồng ý để bà về triều, sai hai tỳ tướng Phan Lân, Nguyễn Ngạnh cầm quân hộ tống. Khi quân hộ tống bà tới Thăng Long, đúng lúc Tô Trung Từ đang đánh nhau to với Đỗ Quảng. Trung Từ hợp binh với hai tướng Phan, Nguyễn phá tan quân của Quảng và bắt giết Quảng.

Trần Thị Dung được phong làm Nguyên phi (元妃), ban cho anh của Trần thị là Trần Tự Khánh làm Chương Thành hầu (章成侯).

Phế lập ngôi vị[sửa | sửa mã nguồn]

Giáng phong Ngự nữ[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Tô Trung Từ chết, Huệ Tông dùng cậu là Đàm Dĩ Mông làm Thái úy phụ chính, Đàm thái hậu cũng xen vào việc chính sự. Họ Đàm muốn nhân quyền ngoại thích mà lộng hành, chính sự ngày càng suy.

Hai lực lượng lớn nhất tranh quyền lúc đó là họ Trần và họ Đoàn. Lý Huệ Tông lo ngại ngoại thích nhà vợ họ Trần thế lực lớn, nên cùng ngoại thích nhà mẹ là cậu Đàm Dĩ Mông muốn dựa vào họ Đoàn. Nghe họ Đoàn gièm pha Trần Tự Khánh muốn phế lập, Huệ Tông tức giận hạ chiếu cho các đạo binh đánh Trần Tự Khánh, và giáng Trần Thị Dung xuống làm Ngự nữ (御女). Đoàn ThượngĐoàn Văn Lôi đem binh về kinh sư. Huệ Tông hạ chiếu tấn phong tước hầu cho Đoàn Thượng.

Lúc bấy giờ, Trần Tự Khánh dẫn quân đi đánh khắp nơi, thu phục được nhiều đất, đặc biệt chiếm được Hồng châu, vùng từ Lạng châu đến núi Tam Trĩ hết thảy đều là đất của họ Trần.

Năm 1213, Đoàn Thượng phối hợp với quân triều đình đụng độ với Trần Tự Khánh. Tuy nhiên, lực lượng họ Trần mạnh hơn, có nhiều tướng giỏi hơn; trong khi đó quân nhà Lý do Huệ Tông và thái sư Đàm Dĩ Mông không có tài làm tướng chỉ huy nhanh chóng bị thua trận. Cánh quân Đoàn Thượng cử đi do Đoàn Cấm và Vũ Hốt chỉ huy bị bộ tướng của Tự Khánh là Nguyễn Nộn (阮嫩) đánh bại. Huệ Tông phải đưa Trần Thị Dung và Thái hậu bỏ chạy lên Lạng Châu, quân họ Đoàn rút khỏi kinh đô trở về Hồng Châu.

Trần Tự Khánh cố thuyết phục Lý Huệ Tông trở về kinh không được, bèn lập một hoàng thân nhà Lý là Lý Nguyên vương lên ngôi làm vua mới.

Thuận Trinh hoàng hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Sau hàng loạt biến cố khác, thế lực của Trần Tự Khánh ngày càng mạnh hơn, buộc vua Huệ Tông phải tính trở về dựa vào họ Trần. Cuối năm, Trần Tự Khánh dẫn binh đánh được Đinh KhảBùi ĐôĐại Hoàng, chiếm luôn vùng đất này.

Đầu năm 1216, Huệ Tông lại lập bà làm Thuận Trinh phu nhân (順貞夫人). Đàm thái hậu cho Trần Tự Khánh là kẻ phản trắc, thường chỉ Trần Thị Dung mà nói là bè đảng của giặc, bảo Huệ Tông đuổi bỏ đi. Sau đó Đàm thái hậu lại sai người nói với bà, bảo phải tự sát. Huệ Tông biết bèn ngăn lại. Đàm Thái hậu bỏ thuốc độc vào món ăn uống của phu nhân. Mỗi bữa ăn Huệ Tông thường chia cho bà một nửa và không lúc nào cho rời bên cạnh.

Trước sức ép muốn giết con dâu của Đàm Thái hậu, Huệ Tông cùng với phu nhân lẻn đi đến chỗ quân của Tự Khánh ở bãi Cửu Liên. Từ đấy, Huệ Tông lại dựa vào Trần Tự Khánh. Tự Khánh bèn phế bỏ vua mới Lý Nguyên vương, tôn Huệ Tông là vua như cũ. Tự Khánh do muốn tiến thân và bảo toàn quyền lực cho dòng họ, nên vẫn kính cẩn phò trợ Huệ Tông tiêu diệt các phiên vương bạo loạn. Nhanh chóng, nhà Lý giành được quyền kiểm soát như cũ. Chấm dứt thế loạn hơn 10 năm.

Cũng vào năm này, phu nhân sinh ra trưởng công chúa cho Huệ Tông, tên là Oanh (鶯), hiệu là Thuận Thiên công chúa (順天公主).

Họ Trần cũng từ đó nắm quyền trong triều, bà được Huệ Tông phong làm Thuận Trinh hoàng hậu (順貞皇后).

Năm 1218, bà sinh tiếp cho Huệ Tông công chúa thứ 2, tên là Phật Kim (佛金), hiệu là Chiêu Thánh công chúa (昭聖公主).

Thái thượng hoàng hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1223, Trần Tự Khánh qua đời, được truy phong làm Kiến Quốc Đại vương (建國大王), anh thứ Trần Thừa tiếp nhận quyền Thái úy phụ chính. Em họ bà là Trần Thủ Độ được phong làm Điện tiền chỉ huy sứ, quản lý quân đội trong ngoài cấm thành.

Năm 1224, Huệ Tông bệnh đến phát điên, không quản được chính sự. Công chúa Chiêu Thánh được lập làm Hoàng thái nữ (皇太女), rồi làm Hoàng đế (皇帝) kế nhiệm, sử gọi là Chiêu hoàng đế (昭皇帝). Huệ Tông truyền ngôi trở thành Thái thượng hoàng, rồi xuất gia ở chùa Chân Giáo trong đại nội hoàng cung. Đàm thái hậu cũng theo ông vào đây xuất gia, gọi là Huệ Quang thiền sư.

Thuận Trinh hoàng hậu được tôn làm Thái thượng hoàng hậu (太上皇后).

Công chúa triều Trần[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1226, Trần Thủ Độ sắp đặt để Chiêu Hoàng nhường ngôi Trần Cảnh - con Trần Thừa, cháu ruột bà, sử gọi là Trần Thái Tông. Chiêu Hoàng trở thành Chiêu Thánh hoàng hậu (昭聖皇后), còn Thái thượng hoàng hậu bị giáng thành Thiên Cực công chúa (天極公主). Tuy vậy, Trần Thái Tông không nỡ gọi bà là công chúa, do bà từng là Hoàng hậu của triều Lý, nên phong bà là Quốc mẫu (國母), biệt danh khác của Hoàng hậu. Cho chế nghi trượng, kiệu xe đều đúng nghi thức của Hoàng hậu.

Không lâu sau bà lấy Trần Thủ Độ. Hai con gái bà, ngoài Lý Chiêu Hoàng lấy Trần Thái Tông, còn Thuận Thiên công chúa lấy anh Trần Cảnh là Trần Liễu.

Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, do Trần Cảnh muộn con, Trần Thủ Độ cùng bàn với bà, ép vua lấy chị dâu là Thuận Thiên công chúa đã có mang với Trần Liễu. Trần Liễu tức giận nổi loạn, Trần Cảnh bị Thủ Độ ép buộc cũng định bỏ ngôi vua đi tu. Sau do sự cứng rắn của Trần Thủ Độ và sự can ngăn, khuyên giải của bà, anh em Trần Cảnh và Trần Liễu vì cơ nghiệp nhà Trần mà giảng hoà, Trần Cảnh thôi ý định bỏ ngôi.

Trong cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ xâm lược vào năm 1258, bà đã lập nên công lao rất lớn. Trong lúc vua quân nhà Trần đang đánh nhau với quân Mông Cổ do Ngột Lương Hợp Thai chỉ huy, đang rút khỏi Bình Lệ Nguyên thì ở kinh thành Thăng Long, bà đã tổ chức thực hiện mưu kế "vườn không nhà trống" do nhà Trần định sẵn một cách thành công, bảo vệ các vương tôn, quý tộc nhà Trần. Chính nhờ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ này, mà quân Mông Cô ngay khi tiến vào Thăng Long đã gặp vô vàn khó khăn.

Sau đó, cuộc phản công của quân Trần được diễn ra, Trần Thị Dung đã thực hiện rất tốt việc tích trữ và vận chuyển lương thảo kịp thời cho quân Đại Việt diệt đạo quân hùng mạnh Mông Cổ.

Năm 1259, bà qua đời, không rõ bao nhiêu tuổi, thụy là Linh Từ (靈慈). Tại tỉnh Thái Bình ngày nay còn nhiều địa điểm, địa danh lưu dấu tích công trạng này của bà. Dân địa phương quê bà thường gọi bà theo tên khi mới sinh là bà chúa Ngừ.

Giai thoại[sửa | sửa mã nguồn]

Có giai thoại kể rằng Trần Thị Dung từng yêu một người đàn ông trước khi trở thành hoàng hậu của vua Lý Huệ Tông. Đó là Phùng Tá Chu, sau trở thành quan Thái phó vào cuối đời Lý.

Phùng Tá Chu hơn Dung 2 tuổi, khi đó là một chàng trai khỏe mạnh, có tư chất thông minh hơn người, lại là bạn thân và là em kết nghĩa của Trần Tự Khánh, anh ruột của Trần Thị Dung. Trần Thủ Độ cũng thích Trần Thị Dung nên luôn tìm cách nói xấu Phùng Tá Chu trước mặt Trần Lý. Tuy nhiên, khi đó binh biến triều đình xảy ra, hoàng tử Sảm chạy đến thôn Lữ Gia - Hải Ấp, và Thị Dung phải chấm dứt mối tình đầu của mình.

Sau khi nhà Lý sụp đổ, Phùng Tá Chu theo nhà Trần, lập nhiều công trạng và được nhà Trần trọng dụng. Năm 1226, vua Trần Thái Tông cử ông đi trấn thủ Nghệ An, được quyền tự ý ban chức vị cho người dưới quyền, ban trước rồi tâu sau. Năm 1233, ông lại được cử đi duyệt định các sắc mục ở Nghệ An, rồi được phong tước Hưng Nhân Vương. Năm 1239, ông làm nhập nội thái phó, trông coi việc xây dựng cung điện, rồi làm quản đốc công trình xây dựng 5 sở hành cung ở Thanh Hóa.

Phùng Tá Chu mất năm 1241, được phong Phúc Thần. Dân chúng thờ ông làm Thành Hoàng ở đình làng Quảng Bá, cùng thờ chung với Bố Cái Đại Vương Phùng Hưng, Từ Tống quân Từ mục.

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Sử gia Ngô Sĩ Liên viết về bà như sau:

"Linh Từ (hiệu do nhà Trần ban cho Trần Thị Dung) trước lấy Lý Huệ Tông là bất chính, sau lấy Trần Thủ Độ là thất tiết, thế nhưng con gái bà là Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho nhà Trần và người con gái khác là Thuận Thiên là hoàng hậu của vua Trần Thái Tông, thân mẫu của vua Trần Thánh Tông. An Sinh Vương có hiềm khích với Thái Tông, nhưng Linh Từ đã ra sức hòa giải, nhờ đó mà anh em lại tình nghĩa như xưa".

Cuộc đời Trần Thị Dung gắn chặt với sự chuyển đổi quyền lực từ nhà Lý sang nhà Trần. Bà nhiều lần thay ngôi đổi vị, do sự biến đổi của thời thế. Lấy và tác động tới Huệ Tông, từ thái hậu xuống làm công chúa, lấy người trong họ tộc, tái giá với kẻ sát hại chồng mình, cùng sắp đặt để con gái lớn lấy em rể, hoà giải 2 cháu là con rể... Những việc làm của Trần Thị Dung trước sau đều vì sự tồn tại và phát triển cơ nghiệp của họ Trần.

Ban đầu, Lý Huệ Tông nghe mẹ đã phế bà làm ngự nữ, nhưng sau đó vì quá yêu thương bà nên đã ra sức che chở cho bà, ngay cả khi vua đang đối đầu với Trần Tự Khánh (khi đó Tự Khánh đã lập hoàng thân khác làm vua Càn Ninh) vẫn phong bà lên làm phu nhân. Tha thiết hơn, Huệ Tông không phải vì chạy loạn mà vì muốn bảo vệ bà đã cùng bà bỏ cung điện đi tìm đến chỗ Tự Khánh. Tuy nhiên, những việc làm của Huệ Tông không được Trần Thị Dung đền đáp tương xứng. Dẫu việc nước trong tay Trần Thủ Độ phán quyết, nhưng bản thân bà, trước cái chết của Huệ Tông do tay Thủ Độ, dù không chết theo cũng không giữ tiết chung thuỷ với chồng cũ; không tái giá với ai khác lại tái giá với chính người vừa hại chồng mình.

Vì cơ nghiệp của họ Trần, bà trở thành người lạnh lùng với họ Lý, hy sinh hết quyền lợi và tình cảm của người họ Lý, dù đó là những người thân thuộc. Những việc làm của bà khác hẳn với Tôn phu nhân - em gái Tôn Quyền khi đã làm vợ Lưu Bị, và Tào hoàng hậu - em gái Tào Phi khi đã làm vợ Hán Hiến Đế thời Tam Quốc[3].

Dường như phẩm chất năng động ở Trần Thị Dung khiến bà không thể lui vào hậu cung sau cái chết của Huệ Tông như hành động theo "đạo" thường thấy của người phụ nữ thời phong kiến. Bà tham gia chính sự và còn góp tay chống ngoại xâm. Những công lao với nước Đại Việt của bà được người đời sau ghi nhận.

Trần Thị Dung được nhân dân tạc tượng lập đền thờ phụng tại động Thiên Hương ở hành cung Vũ Lâm - đền Thái Vi thuộc khu du lịch Tam Cốc - Bích Động tỉnh Ninh Bình.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Vũ Ngọc Khánh - Nhà Lý, NXB Phụ nữ, 2002
  2. ^ Trang Thông Tin Về Khu Lăng Mộ Đền Thờ Các Vua Trần
  3. ^ theo Tam Quốc Diễn Nghĩa, Tôn Thượng Hương em gái Tôn Quyền được gả cho Lưu Bị, sau nghe tin Lưu Bị bị chết trong trận Hào Đình (tin đồn nhầm, thực ra Lưu Bị không chết) đã tự sát (trong thực tế, em gái Tôn Quyền không rõ tên, chỉ được ghi trong sử sách là Tôn Phu Nhân, cũng không tự sát khi nghe tin Lưu Bị chết); Tào Thị em gái Tào Phi được Tào Tháo gả cho Hán Hiến Đế làm hoàng hậu, đã phản đối Tào Phi cướp ngôi của Hiến Đế

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]