Trắc nghiệm tính cách Myers-Briggs

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Trắc nghiệm tính cách Myers-Briggs, hay Chỉ số phân loại Myers-Briggs (Myers-Briggs Type Indication), thường được viết ngắn gọn là MBTI, là một phương pháp sử dụng các câu hỏi trắc nghiệm tâm lý để tìm hiểu tâm lý, tính cách cũng như cách con người nhận thức thế giới xung quanh, đưa ra quyết định cho một vấn đề...

Phương pháp kiểm kê tính cách này khởi nguồn từ các lý thuyết phân loại trong cuốn Psychological Types của Carl Gustav Jung xuất bản năm 1921 và được phát triển bởi Katharine Cook Briggs cùng con gái của bà, Isabel Briggs Myers, từ khoảng Thế chiến thứ hai. Các câu hỏi tâm lý ban đầu đã phát triển thành Chỉ số phân loại Myers-Briggs và được công bố vào năm 1962.

MBTI trả lời cho câu hỏi tại sao mỗi người trên thế giới đều có cá tính khác nhau, không ai giống ai vì vậy MBTI tập trung vào các đối tượng dân số bình thường và nhấn mạnh vào sự khác biệt tự nhiên của mỗi người. Ngày nay MBTI đang trở nên phổ biến và được sử dụng như một phương pháp phân loại tính cách khá chính xác, giúp con người hiểu rõ bản thân và những người xung quanh hoặc tìm được công việc phù hợp...

Dù rất phổ biến trong giới kinh doanh trên toàn thế giới, MBTI cũng bị chỉ trích rộng rãi bở các học giả vì điểm yếu về phương pháp luận, kém hợp lệ về thống kê và kém tin cậy.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

MBTI phân loại tính cách dựa trên 4 nhóm cơ bản, mỗi nhóm là một cặp lưỡng phân của 8 yếu tố chức năng, nhận thức:

Mỗi yếu tố của 4 nhóm trên kết hợp với nhau tạo thành 16 nhóm tính cách MBTI:

ISTJ ISFJ INTJ INFP
Thanh tra viên (Inspector) Bạn tâm giao (Counselor) Người có trí tuệ bậc thầy (Mastermind) Người hòa giải (Healer)
ISTP ISFP INFJ INTP
Thợ lành nghề (Crafter) Người soạn nhạc (Composer) Người che chở (Protector) Kiến trúc sư (Architect)
ESTJ ESFJ ENTJ ENFP
Người giám sát (Supervisor) Nhà cung cấp (Provider) Đại nguyên soái (Field marshal) Nhà vô địch (Champion)
ESTP ESFP ENFJ ENTP
Người sáng lập (Promoter) Người trình diễn (Performer) Người thầy thông thái (Teacher) Người sáng tạo (Inventor)


Phê bình[sửa | sửa mã nguồn]


The statistical validity of the MBTI as a psychometric instrument has been the subject of criticism. It has been estimated that between a third and a half of the published material on the MBTI has been produced for conferences of the Center for the Application of Psychological Type (which provides training in the MBTI) or as papers in the Journal of Psychological Type (which is edited by Myers–Briggs advocates).[1] It has been argued that this reflects a lack of critical scrutiny.[1][2] Many of the studies that endorse MBTI are methodologically weak.[2][3] A 1996 review by Gardner and Martinko concluded: "It is clear that efforts to detect simplistic linkages between type preferences and managerial effectiveness have been disappointing. Indeed, given the mixed quality of research and the inconsistent findings, no definitive conclusion regarding these relationships can be drawn."[2][3]

For example, some researchers expected that scores would show a bimodal distribution with peaks near the ends of the scales, but found that scores on the individual subscales were actually distributed in a centrally peaked manner similar to a normal distribution. A cut-off exists at the center of the subscale such that a score on one side is classified as one type, and a score on the other side as the opposite type. This fails to support the concept of type: the norm is for people to lie near the middle of the subscale.[4][2][5][6][7] "Although we do not conclude that the absence of bimodality necessarily proves that the MBTI developers’ theory-based assumption of categorical “types” of personality is invalid, the absence of empirical bimodality in IRT-based MBTI scores does indeed remove a potentially powerful line of evidence that was previously available to “type” advocates to cite in defense of their position." [7]

In 1991, the National Academy of Sciences committee reviewed data from MBTI research studies and concluded that only the I-E scale has high correlations with comparable scales of other instruments and low correlations with instruments designed to assess different concepts, showing strong validity. In contrast, the S-N and T-F scales show relatively weak validity. The 1991 review committee concluded at the time there was "not sufficient, well-designed research to justify the use of the MBTI in career counseling programs".[8] This study based its measurement of validity on "criterion-related validity (i.e., does the MBTI predict specific outcomes related to interpersonal relations or career success/job performance?)."[8] Studies have found that there is insufficient evidence to make claims about utility, particularly of the four letter type given after the test.[2]

The accuracy of the MBTI depends on honest self-reporting by the person tested.[9]:52–53 Unlike some personality measures, such as the Minnesota Multiphasic Personality Inventory or the Personality Assessment Inventory, the MBTI does not use validity scales to assess exaggerated or socially desirable responses.[10] As a result, individuals motivated to do so can fake their responses,[11] and one study found that the MBTI judgment/perception dimension correlates weakly with the Eysenck Personality Questionnaire lie scale.[12] If respondents "fear they have something to lose, they may answer as they assume they should."[9]:53 However, the MBTI ethical guidelines state, "It is unethical and in many cases illegal to require job applicants to take the Indicator if the results will be used to screen out applicants."[13] The intent of the MBTI is to provide "a framework for understanding individual differences, and … a dynamic model of individual development".[14]

Thuật ngữ[sửa | sửa mã nguồn]

Thuật ngữ của MBTI bị phê phán là "mơ hồ và chung chung",[15] do đó cho phép bất cứ hành vi nào cũng phù hợp với bất cứ loại tính cách nào, điều có thể dẫn đến hiệu ứng Forer, khi người ta chọn những lời mô tả tích cực mà được mặc định là áp dụng với họ.[16][2]

Others argue that while the MBTI type descriptions are brief, they are also distinctive and precise.[17]:14–15 Some theorists, such as David Keirsey, have expanded on the MBTI descriptions, providing even greater detail. For instance, Keirsey's descriptions of his four temperaments, which he correlated with the sixteen MBTI personality types, show how the temperaments differ in terms of language use, intellectual orientation, educational and vocational interests, social orientation, self-image, personal values, social roles, and characteristic hand gestures.[17]:32–207

Phân tích nhân tố[sửa | sửa mã nguồn]

Về phân tích nhân tố, một nghiên cứu trên 1291 sinh viên ngang đại học tìm ra sau nhân tố thay vì bốn như dùng trong MBTI.[18] Trong một nghiên cứu khác, người ta thấy thang JP và SN tương quan với nhau[4]

Tương quan[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Hans Eysenck: "Chiều kích chính của MBTI được gọi là E-I, hay hướng ngoại-hướng nội; đây chủ yếu là thang đo độ giao tiếp xã hội, tương quan tốt với thang MMPI và thang Eysenck. Tuy nhiên, thang này có thành phần độ nhạy cảm, tương quan với hướng nội. Hướng nội tương quan khoảng (giá trị trung bình cho nam và nữ) -.44 với gia trưởng (dominance), -.24 với gây hấn (aggression), +.37 với sỉ nhục (abasement), +.46 với sẵn sàng chỉ dẫn (counselling readiness), -.52 với tự tin, -.36 với điều chỉnh cá nhân (personal adjustment) và -.45 với cảm thông". Việc thang này không thể phân tách hướng nội và nhạy cảm (thực tế không có thang nào cho độ nhạy cảm hay các tính chất rối loạn tâm lý khác trong MBTI) là đặc điểm tệ nhất, chỉ có thể so sánh với việc không sử dụng phân tích nhân tố để kiểm tra việc sắp xếp các đề mục."[19]

Độ tin cậy[sửa | sửa mã nguồn]

Một số nhà nghiên cứu nhìn nhận độ tin cậy của bài kiểm tra là thấp, đặc biệt đối với độ tin cậy tái kiểm tra. Các nghiên cứu tìm ra rằng 39% đến 76% những người được kiểm tra rơi vào những loại khác nhau khi tái kiểm tra vài tuần hoặc vài năm sau,[2][6] và nhiều cá nhân thấy họ được phân loại khác nhau sau khi làm lại bài kiểm tra sau chỉ năm tuần. Cũng có nhiều bằng chứng rằng những thang khác nhau là tương quan cứ không độc lập như được tuyên bố.[2] Trên tạp chí Fortune ngày 15 tháng 5 năm 2013, một bài viết về bài kiểm tra này có tựa đề "Phải chăng tất cả chúng ta đều bị lừa bởi bài kiểm tra Myers-Briggs", nói:

"Điều thú vị -- và hơi đáng lo ngại -- về MBTI là, mặc dù rất nổi tiếng, nó đã bị chỉ trích liên tục bởi những nhà tâm lý học chuyên nghiệp từ ba thập kỷ nay. Một vấn đề là nó thể hiện cái các nhà thống kê gọi là "độ tin cậy tái kiểm tra" thấp. Nếu bạn làm lại bài kiểm tra sau chỉ năm tuần, có khoảng 50% cơ hội bạn sẽ rơi vào một nhóm tính cách khác so với lần đầu tiên bạn làm."

The consequence is that the scores of two people labelled "introvert" and "extravert" may be almost exactly the same, but they could be placed into different categories since they fall on either side of an imaginary dividing line.[20]

One study reports that the MBTI dichotomies exhibit good split-half reliability; however, the dichotomy scores are distributed in a bell curve, and the overall type allocations are less reliable. Also, test-retest reliability is sensitive to the time between tests. Within each dichotomy scale, as measured on Form G, about 83% of categorizations remain the same when individuals are retested within nine months, and around 75% when individuals are retested after nine months. About 50% of people tested within nine months remain the same overall type, and 36% remain the same type after more than nine months.[21] For Form M (the most current form of the MBTI instrument), the MBTI Manual reports that these scores are higher (p. 163, Table 8.6).

In one study, when people were asked to compare their preferred type to that assigned by the MBTI assessment, only half of people picked the same profile.[22] Critics also argue that the MBTI lacks falsifiability[cần dẫn nguồn], which can cause confirmation bias in the interpretation of results.

A number of scholars argue that criticisms regarding the MBTI mostly come down to questions regarding the validity of its origins, not questions regarding the validity of the MBTI's usefulness.[23] Others argue that the MBTI can be a reliable measurement of personality; it just so happens that "like all measures, the MBTI yields scores that are dependent on sample characteristics and testing conditions".[24]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Coffield F, Moseley D, Hall E, Ecclestone K (2004). “Learning styles and pedagogy in post-16 learning: A systematic and critical review” (PDF). Learning and Skills Research Centre. 
  2. ^ a ă â b c d đ e Pittenger, David J. (tháng 11 năm 1993). “Measuring the MBTI...And Coming Up Short.” (PDF). Journal of Career Planning and Employment 54 (1): 48–52. 
  3. ^ a ă William L. Gardner and Mark J. Martinko (1996). “Using the Myers-Briggs Type Indicator to study managers: A literature review and research agenda”. Journal of Management 22: 45–83. doi:10.1177/014920639602200103. 
  4. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên McCrae
  5. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Stricker
  6. ^ a ă Matthews, P (21 tháng 5 năm 2004). “The MBTI is a flawed measure of personality”. Bmj.com Rapid Responses. 
  7. ^ a ă Bess, T.L. & Harvey, R.J. (2001). “Bimodal score distributions and the MBTI: Fact or artifact?”. The Annual Conference of the Society for Industrial and Organizational Psychology, San Diego 2001. 
  8. ^ a ă Nowack, K. (1996). Is the Myers Briggs Type Indicator the Right Tool to Use? Performance in Practice, American Society of Training and Development, Fall 1996, 6
  9. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên manual_2
  10. ^ Boyle, G J (1995). “Myers-Briggs Type Indicator (MBTI): Some psychometric limitations”. Australian Psychologist 30: 71–74. doi:10.1111/j.1742-9544.1995.tb01750.x. 
  11. ^ Furnham, A (1990). “Faking personality questionnaires: Fabricating different profiles for different purposes”. Current Psychology 9: 46–55. doi:10.1007/BF02686767. 
  12. ^ Francis, L J; Jones, S H (2000). “The Relationship Between the Myers-Briggs Type Indicator and the Eysenck Personality Questionnaire Among Adult Churchgoers”. Pastoral Psychology 48. 
  13. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên ethics
  14. ^ “MBTI Type at Workl”. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2010. 
  15. ^ “Forer effect from the Skeptic's Dictionary”. 
  16. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Carroll
  17. ^ a ă Keirsey, David (1998). Please Understand Me II: Temperament, Character, Intelligence. Del Mar, CA: Prometheus Nemesis Book Company. ISBN 1-885705-02-6. 
  18. ^ Sipps, G.J., R.A. Alexander, and L. Friedt. "Item Analysis of the Myers-Briggs Type Indicator." Educational and Psychological Measurement, Vol. 45, No. 4 (1985), pp. 789-796.
  19. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Eysenck_110
  20. ^ “Have we all been duped by the Myers-Briggs test? - Fortune”. management.fortune.cnn.com. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2014. 
  21. ^ Harvey, R J (1996). Reliability and Validity, in MBTI Applications A.L. Hammer, Editor. Consulting Psychologists Press: Palo Alto, CA.  p. 5- 29.
  22. ^ Carskadon, TG & Cook, DD (1982). “Validity of MBTI descriptions as perceived by recipients unfamiliar with type”. Research in Psychological Type 5: 89–94. 
  23. ^ Dawes, Robyn (2004). “Time for a critical empirical investigation of the MBTI: Case and Phillipson are right to highlight the pre-scientific roots of the MBTI, but they fail to separate the issue of the validity or usefulness of the MBTI from the issue of the validity of its origins.(Myers-Briggs Type Indicator)”. European Business Forum (18). 
  24. ^ Capraro, Robert; Margaret Capraro (2002). “MYERS-BRIGGS TYPE INDICATOR SCORE RELIABILITY ACROSS STUDIES: A META-ANALYTIC RELIABILITY GENERALIZATION STUDY”. Educational and Psychological Measurement (62): 590–602. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]