USS Abraham Lincoln

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Hàng không mẫu hạm USS Abraham Lincoln (CVN-72), là lớp Nimitz thứ năm siêu tải của Hải quân Hoa Kỳ. Đây là tàu hải quân thứ hai được đặt tên cựu tổng thống Abraham Lincoln. Cảng đăng lý của tàu ở Norfolk, Virginia,[1] và thuộc Hạm đội Đại Tây Dương Hoa Kỳ.

Hàng không mẫu hạm USS Abraham Lincoln được hạ thủy ngày 13/2/1988, tại Norfolk, Virginia. Đây là tàu sân bay đầu tiên được trang bị máy bay chiến đấu F/A-18E/F Super Hornet, nâng cấp từ F/A-18C/D của hải quân.

Giữa tháng 12/2002, USS Abraham Lincoln, do hãng đóng tàu Newport News (Virginia) sản xuất, trở về Mỹ. Ngày 18/12, tàu sân bay này lên đường tới Australia.

Đặc điểm của USS Abraham Lincoln - Hệ thống phản lực: 2 lò phản ứng hạt nhân - Máy nâng máy bay: 4 - Đường băng: 4 - Tổng chiều dài: 332,85 mét - Diện tích sàn sân bay: 18.211 m2 - Trọng lượng nước rẽ của tàu: 100.000 tấn - Tốc độ: 35 hải lý/giờ - Máy bay: 85 - Giá thành: khoảng 3,5 tỷ USD - Vũ khí: 3 bệ phóng Mk 29 NATO Sea Sparrow, 4 Phalanx CIWS Mk 15 (20 mm) - Cảng chính: Everett, Washington Cuối tháng 12, theo các bản tin từ Hải quân Mỹ, USS Abraham Lincoln hoặc USS Kitty Hawk sẽ được tái triển khai ở vùng Vịnh, do căng thẳng leo thang giữa Baghdad và Washington. Vào thời điểm đó, người ta không rõ Lincoln vẫn tiếp tục được duy trì hay chỉ nhận báo động phòng mọi trường hợp. Ngày 31/12, tàu sân bay này nhận lệnh triển khai trên biển và sẵn sàng cho cuộc chiến ở vùng Vịnh.

Ngày 2/1/2003, USS Abraham Lincoln có mặt ở tây bắc Australia. Sau đó, hàng không mẫu hạm trở về Freemantle để được duy tu, bảo dưỡng trước khi trở lại vùng Vịnh.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Change in Permanent Duty Station for Carrier Strike Group Nine”. OPNAV NOTICE 5400 Ser DNS-33/llU228546. Office of the Chief of Naval OperationsU.S. Department of the Navy. 1 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2011.