Đảng cầm quyền

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Khái niệm[sửa | sửa mã nguồn]

Đảng cầm quyền (tiếng Anh: ruling party hay governing party) trong một đại nghị chếđảng chính trị hay liên minh chính trị chiếm đa số ghế trong quốc hội hay nghị viện. Trong một đại nghị chế, khối đa số trong quốc hội cũng kiểm soát luôn cả ngành hành pháp của chính phủ vì thế không có khả năng hai đảng hay hai khối chính trị đối nghịch nhau cùng lúc chiếm được ngành lập pháp và ngành hành pháp của chính phủ như kiểu tổng thống chế của Mỹ là kiểu thể chế mà đảng của tổng thống không nhất thiết cũng phải chiếm được đa số ghế ở quốc hội. Trong tuyên ngôn chính trị của mình có tựa đề Sách Xanh, nhà lãnh đạo Libya, Muammar al-Gaddafi đả kích cái khả năng của đảng cầm quyền, lấy đó làm cái cớ căn bản cho việc ông chống đối nền chính trị đảng phái.

Đảng cầm quyền bao giờ cũng giữ vai trò lãnh đạo, chi phối toàn bộ hệ thống chính trị, đặc biệt và trực tiếp nhất là nhà nước; bằng nhà nước và thông qua nhà nước để thực hiện mục tiêu, chiến lược của mình. Giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước là một hoạt động cơ bản của các đảng chính trị. Tùy theo điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của từng nước cũng như mục tiêu theo đuổi mà mỗi đảng cầm quyền có những phương thức tổ chức và hoạt động khác nhau, song đều nhằm tới một hướng đích là giành, thực thi và chi phối quyền lực nhà nước, từ đó chi phối và thực thi quyền lực của đảng mình đối với các đảng khác và với toàn xã hội.

Các đảng chính trị khi đã cầm quyền đều tuân theo những nguyên tắc chung là lãnh đạo, chi phối, sử dụng quyền lực nhà nước, sử dụng sức mạnh, các phương tiện vật chất đã được thiết chế hóa của nhà nước để thực hiện mục tiêu của đảng mình, của giai cấp mình. Song, mỗi đảng chính trị khác nhau đều có những phương thức lãnh đạo và cách thức tổ chức thực hiện khác nhau tùy thuộc vào quan điểm, tư tưởng, tương quan lực lượng trong hệ thống chính trị, tùy thuộc vào điều kiện khách quan của tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước và cả nhân tố chủ quan của chính đảng cầm quyền. Vì thế, đảng cầm quyền là vấn đề quan trọng của hệ thống chính trị của tất cả các quốc gia.

Quan điểm của các nước phương Tây về Đảng cầm quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tác phẩm Lôgic chính trị Mỹ (The Logic of American Politic), với tiêu đề Đảng là đứa con ngoài ý muốn của Hiến pháp, tác giả Samuel Kernell và Gary Jacobsson viết: “Hiến pháp không hề đề cập đến các đảng phái chính trị. Trong suốt thời kỳ lập quốc, các đảng phái bị đông đảo người dân coi là mối đe dọa đối với một chính phủ tốt và trật tự công, đặc biệt là những người Cộng hòa. Trong một bầu không khí như vậy, không một nhà lãnh đạo tự trọng nào lại công khai kêu gọi thành lập đảng phái chính trị”.

Trong những năm đầu của việc thành lập Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, quan điểm chung của mọi người là phản đối kịch liệt các đảng phái chính trị. Tuy nhiên, cơ chế bầu cử quy định trong hiến pháp đã là một trong những nguyên nhân chính của việc sinh ra các đảng phái. Chính nhu cầu của các cuộc bỏ phiếu với mục đích thành lập ra từ nhân dân các cơ cấu nhà nước đã là nguyên nhân cho sự ra đời các tập hợp có đồng quan điểm, hoặc có thể cùng chấp nhận một sự liên hợp các chương trình, quan điểm cho hành động. Đó là nguyên nhân ra đời của các đảng phái chính trị để có thể có quyền lực. Họ quan niệm một cách rõ ràng rằng, quyền lực chính trị là một loại quyền lực xã hội quan trọng nhất. Như vậy, đảng phái được tạo ra từ động cơ chính trị được thể hiện rất rõ ràng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cầm quyền và xây dựng Đảng cầm quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm xây dựng và củng cố Đảng, coi đó là nhiệm vụ quan trọng của Đảng và mỗi đảng viên chân chính. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng cầm quyền là hệ thống các quan điểm lý luận mang bản chất cách mạng và khoa học về Đảng và công tác xây dựng Đảng trong điều kiện Đảng đã có chính quyền, bảo đảm thực hiện thắng lợi mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa. Hệ thống các quan điểm ấy được toát lên từ các diễn văn, báo cáo, bài nói, bài viết, các cuộc đối thoại, thư từ... và đặc biệt được thể hiện thông qua những việc làm cụ thể, thiết thực, sinh động của Bác - một cuộc đời vĩ đại hết lòng hy sinh vì dân, vì nước.

Theo Hồ Chí Minh: cách mệnh “trước hết phải có Đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt…Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam.” (http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Dang-ta-la-dang-cam-quyen/20133/163161.vgp).

Hồ Chí Minh quan niệm mục đích của Đảng cầm quyền: [[“không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của tổ quốc và của nhân dân"--Tuannguyenhvhc (thảo luận) 14:47, ngày 5 tháng 1 năm 2015 (UTC)|http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Dang-ta-la-dang-cam-quyen/20133/163161.vgp]].

Theo tư tưởng Hồ Chí Minh, là Đảng Cộng sản cầm quyền, Đảng ta phải hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là đầy tớ trung thành của nhân dân.

Đảng cầm quyền là người lãnh đạo. “Người lãnh đạo>” là xác lập quyền duy nhất lãnh đạo đối với toàn bộ xã hội, và khi có chính quyền, Đảng lãnh đạo chính quyền nhà nước. Đảng lãnh đạo bằng giáo dục và thuyết phục. Đảng lãnh đạo nhưng quyền hành và lỹ luận đều nằm trong tay nhân dân, cho nên Đảng phải “đi đường lối quần chúng, không được quan lieu, mệnh lệnh và gò ép nhân dân”.

Trong bản Di chúc lịch sử, Người đã khẳng định: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền”. Và Người cũng đã căn dặn: “Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.”

Quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng một Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh thể hiện ở nhiều nội dung, từ giữ vững lập trường, tư tưởng của giai cấp công nhân trong xây dựng đường lối, chiến lược và sách lược, đến xây dựng tổ chức, bộ máy của Đảng và xây dựng đội ngũ cán bộ vừa hồng, vừa chuyên, đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ trong mỗi giai đoạn cách mạng.

Đảng Cộng Sản Việt Nam là Đảng cầm quyền[sửa | sửa mã nguồn]

Vấn đề Đảng cầm quyền được đặt ra ngay từ trước Cách mạng Tháng Mười Nga. V.I. Lê-nin nhấn mạnh rằng Đảng của Người "bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng đứng ra nắm toàn bộ chính quyền".

Đảng Cộng Sản Việt Nam chính thức trở thành Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội sau thành công của Cách mạng Tháng Tám 1945.

Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh nói "Đảng ta là Đảng cầm quyền" có nghĩa là Người khẳng định bước ngoặt vĩ đại đánh dấu sự chuyển biến về chất trong vị thế của Đảng từ chưa có chính quyền trở thành có chính quyền; đồng thời là bước ngoặt trong đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo và xác định trách nhiệm của Đảng trước nhân dân, Tổ quốc, dân tộc: Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Sau hàng chục năm lãnh đạo nhân dân làm cách mạng, chiến đấu vô cùng gian khổ, Đảng ta mới giành được chính quyền, mới trở thành Đảng cầm quyền.

Đảng cầm quyền làm cho chính quyền thật sự thuộc về nhân dân; nhân dân là chủ thể của mọi quyền lực dưới sự lãnh đạo của Đảng. Hồ Chí Minh đã nhiều lần khẳng định: "Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân". Một xã hội lành mạnh, một xã hội thật sự dân chủ là xã hội mà mọi quyền lực phải thuộc về nhân dân. Song, nhân dân không tự mình thực hiện đuợc quyền lực, nhân dân phải được tổ chức lại. Bằng kinh nghiệm xương máu, nhân dân đã lựa chọn, ủy thác và trao cho Đảng sứ mệnh lãnh đạo cách mạng, tổ chức nhân dân để thực hiện quyền lực của mình.

Đảng ta hoạt động không có mục đích nào khác ngoài lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc. Từ nhân dân mà ra và tồn tại vì nhân dân, Đảng ta thực tế đã được toàn dân và xã hội thừa nhận. Sự lãnh đạo của Đảng, vai trò cầm quyền của Đảng được thực tế khẳng định như một tất yếu lịch sử.

Chúng ta biết rằng, Hiến pháp là văn bản chính trị - pháp lý, là đạo luật cơ bản, đạo luật gốc của Nhà nước, phản ánh ý chí, lợi ích của toàn dân tộc, thể hiện quyền lực của nhân dân. Như Bác Hồ đã nói, Đảng ta là Đảng cầm quyền, là lực lượng chính trị duy nhất giữ vai trò lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội, có vị trí xứng đáng trong lòng dân tộc Việt Nam suốt gần một thế kỷ qua. Có thể khẳng định rằng, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một vấn đề có tính nguyên tắc của cách mạng Việt Nam.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]