Đồng (tiền Việt Nam Cộng hòa)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đồng (tiền Việt Nam Cộng hòa)
Đồng Việt Nam Cộng hòa
mặt trước đồng 100 in năm 1966 có hình Tả quân Lê Văn Duyệt mặt sau đồng 100 in năm 1966 hình Lăng Ông Bà Chiểu ở Gia Định
mặt trước đồng 100 in năm 1966 có hình Tả quân Lê Văn Duyệt mặt sau đồng 100 in năm 1966 hình Lăng Ông Bà ChiểuGia Định
Sử dụng tại Việt Nam Cộng hòa
Đơn vị nhỏ hơn
1/100 xu/su
Ký hiệu Đ.
Tiền kim loại 10, 20, 50 xu, 1, 5, 10, 20 đồng
Tiền giấy 1, 2, 5, 10, 20, 50, 100, 200, 500, 1000 đồng
Ngân hàng trung ương Ngân hàng Quốc gia Việt Nam
Hộp thông tin này cho biết tình trạng gần nhất trước khi đồng tiền này dừng phát hành.

Đồng đã là tiền tệ của Việt Nam Cộng hòa (Nam Việt Nam) lưu hành bắt đầu từ năm 1953 đến ngày 2 tháng 5 năm 1978. Nó được chia ra thành 100 xu.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tờ tiền giấy mệnh giá 1000 đồng với hình Ngân hàng Quốc gia Việt Nam

Năm 1953, chi nhánh Việt Nam của Viện Phát hành Quốc gia Việt, Miên, Lào (tiếng Pháp: Institut d'Emission des Etats du Cambodge, du Laos et du Vietnam) đã phát hành các giấy bạc có hai tên gọi trên đó là piastre và đồng. Đồng thời, hai chi nhánh khác có dàn xếp tương tự với rielCampuchiakípLào. Tiền Đồng lưu hành ở những khu vực của Việt Nam không nằm dưới sự kiểm soát của lực lượng cộng sản, tức trên lãnh thổ miền nam Việt Nam xét vào năm 1954.

Năm 1955, các tờ giấy bạc đồng độc lập thực sự đã được Ngân hàng Quốc gia Việt Nam phát hành.

Hối suất[sửa | sửa mã nguồn]

Hối suất chính thức USD: Đồng VNCH
Năm Hối suất
1953 1: 35
1960 1: 73,5
1966 1: 80
1970 1: 275
1972 1: 550
1975 1: 700

Hối suất được quy định vào năm 1953 là 1 đồng = USD 0,2857, tức là USD 1 = 35 đồng.[1] Giá trị tiền sau đó giảm dần trong khi lượng tiền lưu hành tăng từ 6,78 tỷ đồng vào năm 1955 lên thành 27,4 tỷ đồng vào cuối năm 1964. Hối suất chính thức sang thập niên 1960 tăng thành USD 1 = 73,5 đồng trong khi giá thị trường ở khoảng 1 USD = 130-180 đồng.[2] Tỷ lệ chính thức do Viện Hối đoái điều chỉnh, cho phép một số đối tượng chuyển ngân ở giá thấp hay giá cao tùy thuộc vào diện ưu tiên. Ví dụ như công ty nhập cảng sữa bò cho trẻ em thì được giá hời trong khi hãng nhập cảng xe hơi thì phải chịu giá chính thức.[3] Năm 1966 hối suất tăng thành USD 1 = 80 đồng. Tỷ lệ này giữ nguyên cho dù tình hình kinh tế suy thoái và sang năm 1970 giá chợ đen có khi lên tới USD 1 = 400 đồng.

Tiền 50 đồng Việt Nam Cộng hòa năm 1975

Tháng Mười năm 1970 chính phủ Đệ nhị Cộng hòa Việt Nam cho điều chỉnh lại hối suất chính thức, giảm giá trị một đồng thành USD 1 = 275 đồng, tức 1 đồng = USD 0,036 cho một số chuyển ngân ngoại tệ.[4]

Năm 1972 kinh tế càng khó khăn cùng lúc chiến cuộc khốc liệt trong Mùa Hè Đỏ Lửa, chính phủ phá giá đồng tiền với mục đích kích thích xuất cảng. Hối suất tăng vụt lên thành USD 1 = 550 đồng. Ngành xuất cảng khởi sắc nhưng giá trị mãi lực và lợi tức của người dân giảm mạnh. Đến năm 1975, năm cuối cùng của chính thể Việt Nam Cộng hòa thì USD 1 = 700 đồng.[5]

Tiền kim loại[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1953, tiền kim loại các mệnh giá 10, 20, 50 xu đã được đưa vào lưu thông. Năm 1960, có thêm tiền kim loại mệnh giá 1 đồng; sau đó là 10 đồng năm 1964, 5 đồng năm 1966 và 20 đồng năm 1968. 50 đồng được đúc năm 1975 nhưng chưa kịp lưu hành thì Việt Nam Cộng hòa sụp đổ; toàn bộ tiền bị hủy bỏ dưới dạng kim loại phế thải, rất hiếm tiền xu này còn tồn tại. Các tiền kim loại đã phát hành có thể tạm chia ra 5 xê ri

Xê ri đầu
Mệnh giá Đường kính Vật liệu Mặt trước Mặt sau Năm đúc
10 xu 23 mm Nhôm 3 phụ nữ, "Quốc gia Việt Nam" cây lúa, "Việt Nam" 1953
20 xu 27 mm
50 xu 31 mm Hai con rồng, "Việt Nam"
Xê ri thứ hai
Mệnh giá Đường kính Vật liệu Mặt trước Mặt sau Năm đúc
50 xu 31 mm Nhôm Ngô Đình Diệm, "Việt Nam Cộng Hòa" tre 1960
1 đồng 23 mm Đồng-nickel

Tiền giấy[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Đệ nhị Cộng hòa loạt tiền giấy lưu hành mang mệnh giá: 20 đồng, 50 đồng, 100 đồng, 200 đồng, 500 đồng và 1000 đồng.[6]

Hình tiền giấy Việt Nam Cộng hòa[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền giải phóng[sửa | sửa mã nguồn]


Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Smith, Harvey et al. tr 402
  2. ^ Smith, Harvey et al. tr 407
  3. ^ Huỳnh Văn Lang. Ký ức Huỳnh Văn Lang. 2009.
  4. ^ "Business in Vietnam". Viet Nam Magazine. Vol IV. No. 2, 1971. tr 25
  5. ^ Clarke, Jeffrey J. Advice and Support: The Final Years, 1965-1973. Washington, DC: U.S. Army Center of Military History, 1988. tr 503
  6. ^ Sales, Jeanne M. Guide to Viet-Nam. Sài Gòn: American Women's Association of Saigon, 1974.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Smith Harvey et al. Area Handbook for South Vietnam. Washington, DC: US Government Printing Office, 1967.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết[sửa | sửa mã nguồn]