Axit oxo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm


Axít oxo, axít ôxi hay axít có ôxi là tên gọi của những loại axít bao hàm một hoặc nhiều nguyên tử ôxi trong phân tử của nó. Cụ thể, đặc điểm của một axít oxo là:

  1. Bao hàm ôxi
  2. Bao hàm ít nhất một nguyên tố khác ngoài ôxi
  3. Ít nhất có một nguyên tử hiđrô bám vào ôxi
  4. Hình thành ion bằng cách cho đi một hay nhiều proton[1]

Một cái tên khác là axít ôxi đôi khi được dùng, dù không được đặc biệt khuyến khích.

Miêu tả[sửa | sửa mã nguồn]

Nhìn chung, axít oxo là những ion đa nguyên tử mang một hiđrô phân cực mang điện dương, hiđrô này có thể tách khỏi axít oxo để trở thành một cation.

Theo lý thuyết phản ứng axít - bazơ nguyên thủy của Lavoisier, tất cả các loại axít đều phải chứa ôxi, được đặt tên theo từ tiếng Hy Lạp οξυς (oxys - có nghĩa là sắc bén, axít) và γεινομαι (geinomai, sản sinh). Về sau, người ta phát hiện ra rằng một số axít như axít clohiđric không bao hàm ôxi, chính vì vậy giới khoa học bắt đầu chia axít thành hai loại: axít có ôxi (axít oxo) và axít halihiđric.

Tất cả các axít oxo đều mang liên kết hiđrô mang tính axít với một nguyên tử ôxi, vì vậy độ bền liên kết hay độ dài liên kết không phải là một nhân tố quan trọng trong quyết định tính axít, as it is with binary nonmetal hydrides. Chính độ âm điện của nguyên tử trung tâm (E) và số lượng nguyên tử ôxi trong phân tử sẽ quyết định tính axít của nó (cụ thể số lượng ôxi liên kết với E càng nhiều thì tính axít càng tăng, và tương tự với độ âm điện của E).

Theo quy luật thứ hai của Pauling về pKa của axít oxo, một axít oxo có thể được viết dưới dạng OmE(OH)n và giá trị pKa đầu tiên của nó không phụ thuộc vào độ âm điện của E và n mà phụ thuộc vào m (8 với m =0, 3 với m =1, -2 với m=2 và <-10 với m=3).[1] Điều này cũng tương quan với số ôxi hóa của E, tức là khi số ôxi hóa càng cao thì tính axít càng mạnh.

Cụ thể, dựa vào quy tắc của Pauling chúng ta có thể ước lượng gần đúng giá trị pKa đầu tiên của axít oxo theo công thức: pKa = 8 - 5m. Ví dụ ta có thể ước tính pKa của HClO là 8 (thực nghiệm cho thấy là 7,2), của HClO2 là 3 (thực nghiệm là 2), của HClO3 là -2 (thực nghiệm -1) và HClO4 là -7 (thực nghiệm -8).

Axít imidic được tạo ra bởi việc thay thế các liên kết =O trong axít oxo bằng liên kết =NR.[2]

Ví dụ[sửa | sửa mã nguồn]

Axít oxo[sửa | sửa mã nguồn]

Axít halihiđric[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Đối với các định nghĩa khắt khe thì axít boric không thuộc nhóm axít oxo vì axít boric thường có xu hướng nhận một hiđrôxít để trở thành anion hơn là cho đi proton: B(OH)3 + H2 [B(OH)4] + H+. Mặc dù vậy, trên thực tế axít boric vẫn được xếp vào nhóm axít oxo như các thành viên khác.

Nguồn dẫn[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Greenwood, N.N.; Earnshaw, A. (1997). Chemistry of the Elements (ấn bản 2). Oxford: Butterworth-Heinemann. tr. 50. ISBN 0-7506-3365-4. 
  2. ^ http://goldbook.iupac.org/I02949.html

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]