Cách mạng Hà Lan

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cách mạng tư sản Hà Lan
Slag bij Nieuwpoort.jpg
Hoàng tử Maurice tại trận chiến Nieuwpoort bởi Pauwels van Hillegaert. Tranh dầu.
.
Thời gian 1568–1648
Địa điểm Các quốc gia vùng đất thấp
(Thế giới Chiến tranh)
Kết quả Hòa bình Münster
Độc lập cho Cộng hòa Hà Lan
Tham chiến
 United Provinces
 Vương quốc Anh
Bản mẫu:Country data Nassau
Croix huguenote.svg Huguenots
 Pháp
Cờ của Tây Ban Nha Đế quốc Tây Ban Nha
 Holy Roman Empire
Chỉ huy
Flag of the Dutch Republic Willem de Zwijger
Flag of the Dutch Republic Maurice of Nassau
Flag of the Dutch Republic Frederick Henry
Cờ của Tây Ban Nha Felipe II của Tây Ban Nha
Cờ của Tây Ban Nha Duke of Alba
Cờ của Tây Ban Nha John of Austria
Cờ của Tây Ban Nha Duke of Parma
Cờ của Tây Ban Nha Archduke Albert
Cờ của Tây Ban Nha Ambrogio Spinola
.

Cách mạng tư sản Hà Lan (hay còn gọi là Cách mạng Hà Lan) là cuộc cách mạng tư sản đầu tiên trên thế giới, mở ra cho một loạt các cuộc cách mạng tư sản sau này. Đây cũng là dấu mốc đánh dấu sự chuyển giao lịch sử giữa thời kỳ Trung cổCận đại.

Nguyên nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Cách mạng tư sản Hà Lan nổ ra là vì nguyên nhân là vùng đất Nederlands (thuộc Bỉ và Hà Lan bây giờ, là một vùng đất thấp hơn mực nước biển nên có tên gọi như vậy) lệ thuộc vào Áo vào cuối thế kỷ XV, giữa thế kỷ sau lại chịu sự thống trị của Vương quốc Tây Ban Nha. Từ đầu thế kỷ này, vùng đất này là một trong những vùng kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển nhất châu Âu với nhiều thành phốhải cảng, trong đó có những trung tâm thương mại nổi tiếng như Utrecht, Amsterdam,... Sự phát triển kinh tế của Nederlands cũng trùng thời điểm Phong trào Kháng cách diễn ra trên khắp lục địa già. Đây là nơi mà tư tưởng Tân giáo, một trong hai xu hướng của phong trào trên, của Calvin phát triển. Thấy được những điều đó. Tây Ban Nha đã tìm mọi biện pháp để kiểm soát vùng đất này. Quốc vương xứ đấu đã tăng cường kiểm soát và vơ vét của cải của nhân dân Nederlands bằng thuế nặng để kìm hãm sự phát triển của vùng đất này. Thêm vào đó, Quốc vương đã đàn áp những người theo Tân giáo. Điều thể hiện rõ nhất đó là quy định: hễ ai là tín đồ Tân giáo đàn ông bị chặt đầu, đàn bà bị chôn sống hoặc bị thiêu tài sản bị tịch thu, những người che giấu, giúp đỡ và nói chuyện với họ cũng bị tịch thu tài sản. Từ đây, mâu thuẫn giữa người dân Nederlands và Tây Ban Nha ngày càng gay gắt và nguy cơ của một cuộc chiến tranh là không thể tránh khỏi.

Diễn biến[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 8 năm 1566, nhân dân miền bắc Nederlands đã nổi dậy khởi nghĩa. Mục tiêu của họ là Giáo hội, chỗ dựa vững chãi của người Tây Ban Nha. Một năm sau, tháng 8 năm 1567, Tây Ban Nha đưa thêm quân sang, đàn áp dã man họ, nhưng không thể ngăn cản sự phản kháng của nhân dân vùng đất bị xâm chiếm kia. Tháng 4 năm 1572, quân khởi nghĩa đã làm chủ được phía bắc. Quý tộc tư sản hóa ở Nederlands vì bất mãn với Tây Ban Nha nên theo những người khởi nghĩa và đứng đấu cuộc đấu tranh. Tháng 1 năm 1579, đại biểu các tỉnh miền bác nhóm họp tại Utrecht, tuyên bố những quyết định quan trọng. Trong hội nghị này, các đơn vị đo lường được thống nhất, chính sách về đối ngoạiquân sự được nêu ra, đạo Calvin được chọn là quốc giáo, quyền tự do tín ngưỡng được tôn trọng. Tiếp theo, vào tháng 7 năm 1581, vua Felipe II của Tây Ban Nha đã bị phế truất. Thế là hội nghị các đẳng cấp gòm đại biểu của các tỉnh miền bắc trở thành cơ quan quyền lực tối cao. Các tỉnh này thống nhất với nhau thành một nước cộng hòa có tên Các tỉnh liên hiệp hay Hà Lan. Sở dĩ có tên như vậy vì Hà Lan là tỉnh có vai trò quan trọng nhất trong cuộc đấu tranh này. Tuy nắm chắc thất bại, những Tây Ban Nha chưa chịu công nhận sự độc lập của Hà Lan. Thế nên, nhân dân Hà Lan phải tiếp tục đấu tranh. Kết quả là Hiệp định đình chiến giữa hai bên được kí kết vào năm 1609, những mãi tới năm 1648 thì nền độc lập của quốc gia mới Hà Lan mới được công nhận chính thức.

Tính chất[sửa | sửa mã nguồn]

Cách mạng tư sản Hà Lan mang tính chất của cuộc cách mạng tư sản dưới hình thức của một cuộc đấu tranh giành độc lập. Đây là tính chất chung của các cuộc cách mạng lớn thời kỳ Cận đại.

Ý nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Cách mạng tư sản Hà Lan, về phương diện dân tộc, đã giải phóng Hà Lan khỏi sự thống trị của bên ngoài. Từ đây, Hà Lan trở thành một quốc gia độc lập và phát triển. Về phương diện giai cấp, cách mạng tư sản Hà Lan đã dọn đường cho tư bản chủ nghĩa phát triển, thể hiện sự thắng thế của giai cấp tư sản đối với giai cấp phong kiến, báo hiệu sự suy vong của giai cấp phong kiến. Về phương diện thế giới, cách mạng tư sản Hà Lan đã ảnh hưởng tới nhiều cuộc cách mạng tư sản nổi tiếng sau này như Cách mạng tư sản Anh, Cách mạng PhápCuộc chiến tranh giành độc lậpBắc Mỹ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Nghiên cứu thêm[sửa | sửa mã nguồn]

(free E-texts)
  • Geyl, Pieter. (1932), The Revolt of the Netherlands, 1555–1609. Williams & Norgate, UK.
  • Geyl, Pieter. (1936), The Netherlands Divided, 1609–1648. Williams & Norgate, UK.
  • Israel, Jonathan I. (1998), The Dutch Republic. Its Rise, Greatness, and Fall 1477–1806, Clarendon Press, Oxford, ISBN 0-19-820734-4.
  • Koenigsberger, H.G. (2007) [2001] Monarchies, States Generals and Parliaments. The Netherlands in the fifteenth and sixteenth centuries, Cambridge U.P., ISBN 978-0-521-04437-0 paperback
  • Parker, Geoffrey (1977), The Dutch revolt, Penguin books, London
  • Pepijn Brandon (2007), "The Dutch Revolt: a Social Analysis" from International Socialism journal 116, autumn 2007.
  • Rodríguez Pérez, Yolanda, The Dutch Revolt through Spanish Eyes: Self and Other in historical and literary texts of Golden Age Spain (c. 1548–1673) (Oxford etc., Peter Lang, 2008) (Hispanic Studies: Culture and Ideas, 16).

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]