Công nghệ văn hoá

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Công nghệ văn hoá (tiếng Anh: Cultural Technology; viết tắt là CT) là một khái niệm được phổ biến bởi Lee Soo-man, người sáng lập công ty quản lý tài năng và hãng thu âm Hàn Quốc S. M. Entertainment.[1] Đó là một quy trình 3 bước để xuất khẩu K-pop ra nước ngoài như một phần của Làn sóng Hàn Quốc.

Nền tảng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong một bài phát biểu tại Trường Đại học Kinh doanh Stanford vào năm 2011, Lee Soo-man tuyên bố rằng ông đề ra khái niệm "Công nghệ văn hoá" khoảng mười bốn năm trước, khi công ty SM quyết định khởi động các nghệ sĩ và nội dung văn hoá của mình xuyên khắp châu Á. Ông cũng đề cập rằng mặc dù thời đại của công nghệ thông tin đã chi phối hầu khắp những năm 1990 nhưng ông dự đoán rằng thời đại của "Công nghệ văn hoá" sẽ tiếp bước ngay sau đó.[2]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “What Marketers Can Learn from Korean Pop Music”. Harvard Business Review. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2012. 
  2. ^ Seabrook, John. “Cultural technology and the making of K-Pop”. The New Yorker. Truy cập ngày 19 tháng 10 năm 2012.