Ca dao Việt Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Văn học Việt Nam.png
    Văn học dân gian:

    Thần thoại
    Truyền thuyết
    Cổ tích
    Truyện cười
    Ngụ ngôn
    , Tục ngữ
    Thành ngữ
    Câu đố
    Ca dao
    Văn học dân gian dân tộc thiểu số
    Sân khấu dân gian

    Văn học viết:

    Văn học đời Lý
    Văn học đời Trần
    Văn học đời Lê Sơ
    Văn học đời Mạc
    Văn học đời Lê trung hưng
    Văn học đời Tây Sơn
    Văn học thời Nguyễn
    Văn học thời Pháp thuộc
    Văn học thời kỳ 1945-1975
    Văn học thời kỳ từ 1976

xem thêm
    Tác giả - tác phẩm:

    Nhà thơ - Nhà văn
    Nhà báo - Nhà viết kịch
    Tư liệu văn học Việt Nam

Ca dao (歌謠) là một từ Hán Việt, theo từ nguyên, ca là bài hát có chương khúc, giai điệu; dao là bài hát ngắn, không có giai điệu, chương khúc.

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ca dao phản ánh lịch sử: Ca dao lịch sử không phản ánh hiện tượng lịch sử trong quá trình diễn biến của nó, mà chỉ nhắc đến sự kiện lịch sử để nói lên thái độ, quan điểm nhân dân.
  • Phản ánh nếp sống, phong tục, tập quán truyền thống; phản ánh đời sống tình cảm nhân dân; phản ánh đời sống xã hội cũ. Ngoài ra, ca dao còn:
  • Chứa đựng tiếng cười trào phúng

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đồng dao: là thơ ca dân gian truyền miệng trẻ em. Đồng dao được chia thành hai loại: loại gắn với công việc của trẻ em, loại gắn với trò chơi của trẻ em.
    Chi chi chành chành
    Cái đanh thổi lửa
    Con ngựa đứt cương
    Ba vương ngũ đế
    ...
  • Ca dao lao động: là phần lời cốt lõi của dân ca lao động. Những bài ca lao động tồn tại như là một bộ phận của quá trình lao động.
    Trời mưa trời gió đùng đùng
    Bố con ông Nùng đi gánh phân trâu
    Đem về trồng bí trồng bầu
    Trồng ngô, trồng lúa, trồng rau, trồng cà.
  • Ca dao ru con: Hát ru có từ lâu đời và rất phổ biến, lời hát ru phần nhiều là những câu ca dao có sẵn.
    Cái ngủ mày ngủ cho lâu
    Mẹ mày đi cấy ruộng sâu chưa về
  • Ca dao nghi lễ, phong tục: Trong nhiều bài ca tế thần, các yếu tố trữ tình cũng có mặt, cùng với yếu tố hiện thực, chúng biểu hiện sức mạnh của đời sống hiện thực trong các hình thức sinh hoạt tôn giáo trong nhân dân.
    Dập dìu cánh hạc chơi vơi
    Tiễn thuyền Vua Lý đang dời kinh đô
    Khi đi nhớ cậu cùng cô
    Khi về lại nhớ cá rô Tổng Trường
  • Ca dao trào phúng, bông đùa
    Lỗ mũi mười tám gánh lông
    Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho
    Đêm nằm thì ngáy o o
    Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui nhà
    Đi chợ thì hay ăn quà
    Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ cơm
    Trên đầu những rác cùng rơm
    Chồng yêu chồng bảo hoa thơm rắc đầu.
  • Ca dao trữ tình.
    Hỡi cô tát nước bên đàng
    Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.

Nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thể thơ: Ca dao sử dụng nhiều thể thơ khác nhau, thể lục bát rất phổ biến trong ca dao; thể song thất lục bát được sử dụng không nhiều; thể vãn thường gồm một câu có bốn hoặc năm chữ, rất đắc dụng trong đồng dao. Ngoài ra ca dao cũng sử dụng hợp thể là thể thơ gồm từ bốn, năm chữ thường kết hợp với lục bát biến thể.
  • Cấu tứ có các loại sau: Cấu tứ theo lối ngẫu nhiên không có chủ đề nhất định; cấu tứ theo lối đối thoại, và cấu tứ theo lối phô diễn về thiên nhiên.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • [ Đời Người Đàn Ông Qua Tướng Học Và Quan Niệm Dân Gian - Nhà xuất bản Thời Đại-Tác giả Lương Trọng Nhàn]