Chất giải độc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm


Chất giải độc hay chất kháng độc là những chất đối kháng với chất độc.[1]

Chất giải độc thực tế là chất độc được sản xuất bằng cách tiêm chất độc vào động vật ở liều nhỏ và sử dụng máu của chúng chiết xuất ra kháng thể. Những chất kháng nọc độc được dùng để đối chống nọc độc sản xuất bởi các loài có độc như: rắn, nhện, và một số loài khác. Một số nọc độc chưa có chất kháng nọc độc, vết cắn hoặc nọc độc từ một động vật có thể dẫn đến tử vong.[cần dẫn nguồn] đặc biệt của một số loài động vật Chân khớp (ví dụ: nhện, bọ cạp, ong,...) có khả năng gây chết người vì chúng gây kích ứng phản ứng dị ứng bao gồm: shock phản vệ. Trong trường hợp đó không có chất giải độc cho những chất độc này bởi vì chúng không độc mà chỉ gây shock phản vệ có thể điều trị bằng epinephrine.

Một số chất độc khác chưa tìm ra chất giải độc. Ví dụ, chất độc aconitine,là alkaloid có độc tính cao được chiết xuất từ cây thuộc họ ô đầu chưa có chất giải độc.

Một số cơ chế giải độc[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiễm độc đường tiêu hóa thường được điều trị bằng các uống than hoạt tính, Mục đích hấp phụ chất độc và làm sạch đường tiêu hóa, do đó loại bỏ phần lớn chất độc. Chất độc được tiêm vào cơ thể (chẳng hạn như những từ vết cắn hoặc đốt từ động vật có nọc độc) thường được điều trị bằng cách làm thắt chặt hạn chế lưu thông của bạch huyết và máu đến khu vực này, do đó làm chậm phát tán chất độc quanh cơ thể. Điều này không để gây nhầm lẫn với việc cắt giảm lưu lượng máu hoàn toàn - thường dẫn đến hoại tử các chi.

Danh sách chất giải độc[sửa | sửa mã nguồn]

Chất kháng độc Chỉ định
Than hoạt tính với sorbital Chất độc đường tiêu hóa
Adenosine Chất giải độc Theophylline cho nhiễm độc adenosine
Atropine Thuốc trừ sâu nhóm organophosphatecarbamate, chất độc thàn kinh, nấm
Beta blocker theophylline
Calcium chloride calcium channel blockers, vết cắn nhện quá phụ đen
Calcium gluconate hydrofluoric acid
Các chelator như EDTA, dimercaprol (BAL), penicillamine, và 2,3-dimercaptosuccinic acid (DMSA, succimer) Nhiễm độc kim loại nặng
Chất giải độc Cyanide: (amyl nitrite, sodium nitrite, hoặc thiosulfate) chất độc cyanide
Cyproheptadine hội chứng serotonin
Deferoxamine mesylate Nhiễm độc sắt
Digoxin Immune Fab kháng thể (Digibind and Digifab) Quá liều digoxin
Diphenhydramine hydrochloridebenztropine mesylate Hội chứng ngoại tháp liên quan đến antipsychotic
Ethanol hoặc fomepizole Nhiễm độc ethylene glycol, methanol
Flumazenil Nhiễm độc benzodiazepine
Glucagon Nhiễm độc beta blockercalcium channel blocker
100% oxygen hoặc điều trị oxy cao áp (HBOT) Nhiễm độc carbon monoxidecyanide
Insulin với Glucagon Quá liều beta blockercalcium channel blocker
Leucovorin methotrexatetrimethoprim
xanh methylene methemoglobinemia
Naloxone hydrochloride Quá liều opioid
N-acetylcysteine Quá liều Paracetamol (acetaminophen)
Octreotide hạ đường huyết
Pralidoxime chloride (2-PAM) Thuốc trừ sâu nhóm organophosphate, sau khi sử dụng atropine
Protamine sulfate Nhiễm độc Heparin
Prussian blue Thallium poisoning
Physostigmine sulfate Nhiễm độc anticholinergic
Pyridoxine Nhiễm độc Isoniazid, ethylene glycol
Phytomenadione (vitamin K) and huyết thanh tươi làm lạnh Nhiễm độc warfarinindanedione
Sodium bicarbonate ASA, Thuốc chống trầm cảm ba vòng

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]