E. E. Cummings

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
E. E. Cummings
Sinh 14 tháng 10, 1894
Cambridge, Massachusetts, Mỹ
Mất 3 tháng 9, 1962
North Conway, New Hampshire, Mỹ
Công việc Nhà thơ
Quốc gia người Mỹ

Edward Estlin Cummings (14 tháng 10 năm 1894 - 3 tháng 9 năm 1962), thường viết là e. e. cummings, là một nhà thơ, họa sĩ, nhà soạn kịch, nhà văn người Mỹ. E. E. Cummings là tác giả của hơn 900 bài thơ, nhiều vở kịch, tác phẩm hội họa và một số tiểu thuyết, được coi là một nhà thơ xuất sắc của thế kỉ 20.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

E. E. Cummings sinh ở Cambridge, Massachusetts, học Đại học Harvard trong các năm 1911-1916. Năm 1915 ông nhận bằng cử nhân (B. A.) và năm 1916 bằng thạc sĩ (M. A.). O6ng bắt đầu làm thơ từ năm 1912 và thường in thơ ở báo Harvard Monthly. Năm 1916 ông có một số bài thơ trong cuốn Eight Harvard Poets (Tám nhà thơ Harvard), cũng trong năm này ông tình nguyện sang Pháp làm lính cứu thương. Năm tháng sau khi sang Pháp, ông bị bắt giam ở trại Dépôt de Triage gần 4 tháng vì bị nghi làm gián điệp. Ký ức về những ngày tháng trong trại giam được Cummings kể lại trong tiểu thuyết The Enormous Room (Phòng to). Sau khi được trả tự do nhờ sự can thiệp của bố, Cummings trở về Mỹ và phục vụ trong quân đội đến tháng 11 năm 1918. Năm 1923 Cummings trở lại Pháp học tiếp hội họa mà trước đây đã học ở Harvard. Thời gian này Cummings đi du lịch nhiều ở châu Âu, kể cả sang Liên Xô.

Thơ ca[sửa | sửa mã nguồn]

Từ những tập thơ đầu Tulips and Chimneys (Hoa Tuylíp và Ống khói, 1923), Is 5 (Bằng 5, 1926) Cummings đã sử dụng kiến thức hội họa trong thơ, bắt buộc người đọc không chỉ "đọc" mà còn phải "ngắm" thơ và luôn làm đau đầu các nhà in thời đó. Thí dụ, bài thơ "a leaf falls loneliness" được viết:

 
l(a
 
le
af
fa
 
ll
 
s)
one
l
 
iness
 

E. E. Cummings không chỉ là người sáng tạo ra một phong cách thơ độc đáo mà thơ ông có nội dung sâu sắc và chất hài hước chua cay. Mặc dù vậy, trong thơ của Cummings vẫn nói nhiều về tình yêu, tình bạn và những tình cảm khác của con người.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Mộ Edward Estlin Cummings
  • The Enormous Room (Phòng to, 1922), tiểu thuyết
  • Tulips and Chimneys (Hoa Tuylíp và Ống khói, 1923), thơ
  • & (1925), thơ
  • XLI Poems (1925), thơ
  • is 5 (Bằng 5, 1926), thơ
  • HIM (1927), kịch
  • Eimi (1933), truyện
  • Collected Poems (1938), thơ
  • 50 Poems (1940), thơ
  • 1 × 1 (1944), thơ
  • Xaipe: Seventy-One Poems (1950), thơ
  • Poems, 1923—1954 (1954), thơ
  • 95 Poems (1958), thơ
  • 73 Poems (1963, thơ

Một số bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

plato told…
 
plato told
 
him: he couldn't
believe it (jesus
 
told him; he
wouldn't believe
 
it) lao
 
tsze
certainly told
him, and general
(yes
 
mam)
sherman;
and even
(believe it
or
 
not) you
told him: i told
him; we told him
(he didn't believe it, no
 
sir) it took
a nipponized bit of
the old sixth
 
avenue
el; in the top of his head: to tell
 
him
 
rain or hail…
 
rain or hail
sam done
the best he kin
till they digged his hole
 
sam was a man
 
stout as a bridge
rugged as a bear
slickern a weazel
how be you
 
(sun or snow)
 
gone into what
like all them kings
you read about
and on him sings
 
a whippoorwill;
 
heart was big
as the world aint square
with room for the devil
and his angels too
 
yes, sir
 
what may be better
or what may be worse
and what may be clover
clover clover
 
(nobody'll know)
 
sam was a man
grinned his grin
done his chores
laid him down.
 
sleep well
plato nói[1]
 
plato nói
 
với anh; anh không
tin (jesus
 
nói với anh; anh
không tin)
 
lão
 
tử
dĩ nhiên nói
với anh, và tướng
(vâng
 
quả vậy)
sherman;
còn nói nhiều hơn
(anh tin
hoặc
 
không) bạn
nói với anh; tôi nói
với anh; chúng ta nói với anh
(anh không tin, không
 
thưa ngài) cuối cùng
mảnh đạn nhật
làm từ sắt
 
của đường hầm số sáu
rơi trên đầu anh; mới nói
 
được với anh.
 
sam là một con người[2]
 
mưa dông hay mưa đá
sam làm xong mới thôi
làm những gì có thể
khi còn sống trên đời
 
sam là một con người
 
chắc khỏe như cây cầu
vạm vỡ như con gấu
như con chuột – nhanh nhảu
cũng giống như anh thôi
 
(tuyết hay là mặt trời)
 
đi về cõi hư vô
như tất cả ông vua
còn anh rồi sẽ đọc
và chim sẽ thổn thức
 
chim đớp muỗi nhớ về
 
con tim từng rộng mở
như thế giới mênh mông
có chỗ cho thiên thần
có chỗ cho quỉ sứ
 
vâng, thưa ngài đúng thế
 
điều gì sẽ tốt hơn
hay điều gì xấu hơn
không một ai có thể
biết được cho rõ rành
 
(không một ai có thể)
 
sam là một con người
cười xếch đến mang tai
làm việc như quỉ sứ
khi còn sống trên đời
 
yên giấc nhé, sam ơi
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Bài thơ này mới xem qua, ta ngỡ là một trò chơi chữ ngộ nghĩnh. Trên thực tế, đây là câu chuyện buồn về một người lính Mỹ. Anh ta không tin, hoặc có thể, chưa hiểu lắm những học thuyết của Plato, Lão Tử, Giê-su nhưng có một điều còn thuyết phục hơn học thuyết của các nhà tư tưởng, nói được với anh ta về cái Thiện và cái Ác. Đó là "a nipponized bit of the old sixth avenue el", nghĩa là mảnh đạn Nhật, làm từ sắt của đường hầm số Sáu (ở New York). Những năm 30 thế kỉ XX người Mỹ bán sắt đường hầm này thành sắt vụn cho người Nhật. Trong chiến tranh, đạn của Nhật làm từ sắt Mỹ rơi lên đầu lính Mỹ.
  2. ^ Sam là nhân vật có thật, là hàng xóm ở trang trại của Cummings.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]