Fyodor Sologub

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Fyodor Sologub
Sinh 1 tháng 3 năm 1863
Saint Petersburg, Nga
Mất 5 tháng 12 năm 1927
Leningrad, Nga
Công việc Nhà thơ
Quốc gia Nga

Fyodor Sologub (tiếng Nga: Фёдор Сологуб, tên khai sinh Fyodor Kuzmich Teternikov, 1 tháng 3 năm 1863 – 5 tháng 12 năm 1927) – nhà thơ, nhà văn Nga, một đại diện tiêu biểu của trường phái thơ ấn tượng.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Fyodor Sologub sinh ở Sankt-Peterburg trong một gia đình nghèo. Từ nhỏ đã ham mê đọc sách và yêu thích âm nhạc. Biết làm thơ năm lên 12 tuổi. Năm 1878 vào học trường sư phạm Sankt-Peterburg. Bốn năm sau tốt nghiệp đi dạy học ở các tỉnh phía bắc gần 10 năm. Từ năm 1892 chuyển về sống ở Sankt-Peterburg, làm quen với nhiều nhà thơ nổi tiếng và bắt đầu in nhiều thơ ở các báo và tạp chí. Theo đề nghị của một số người ở tạp chí “Северный вестник” (Người đưa tin phương Bắc) thì họ Teternikov nghe có vẻ không thơ ca chút nào nên đề nghị đổi thành Sologub. Năm 1896 in 1 cuốn thơ và 2 tiểu thuyết về đời sống ở phương Bắc. Năm 1902 in tiểu thuyết Мелкий бес (Con quỉ nhỏ) trở thành một trong những cuốn sách nổi tiếng nhất ở Nga thời bấy giờ. Thời kỳ Thế chiến ICách mạng tháng Mười, Sologub ít viết tiểu thuyết mà chủ yếu làm thơ và viết kịch.

Ngoài thơ, văn và soạn kịch, Sologub còn dịch nhiều tác giả của Pháp, Đức ra tiếng Nga. Sologub mất ở Leningrad năm 1927. Di sản thơ văn của Sologub để lại rất đồ sộ, một phần thơ của ông chỉ mới được in hết trong thời gian gần đây.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Fyodor Sologub và vợ

Tiểu thuyết:

  • Тяжёлые сны (Những giấc mộng nặng nề, 1895)
  • Мелкий бес (Con quỉ nhỏ, 1905)
  • Слаще яда (Ngọt hơn nọc độc, 1912)
  • Заклинательница змей (Phù thủy rắn, 1921)

Các tập truyện:

  • Тени (Bóng, 1896)
  • Жало Смерти (Nọc của Thần chết, 1904)
  • Книга сказок (Sách cổ tích, 1905)
  • Политические сказочки (Chuyện cổ tích chính trị, 1906)
  • Книга разлук (Sách ly biệt, 1908)
  • Книга очарований (Sách tuyệt vọng, 1909)
  • Слепая бабочка (Con bướm mù, 1918)

Các tập thơ:

  • Стихи. Книга первая (Thơ. Quyển 1, 1896)
  • Стихи. Книга вторая (Thơ. Quyển 2, 1896)
  • Пламенный круг (Vòng lửa, 1908)
  • Очарования земли (Vẻ quyến rũ của đất đai)
  • Война (Chiến tranh, 1915)
  • Небо голубое (Trời xanh, 1921)
  • Одна любовь (Một tình yêu, 1921)
  • Костёр дорожный (Lửa trại bên đường, 1922)

Kịch:

  • Литургия Мне (Thánh lễ cho tôi, 1906)
  • Дар мудрых пчёл (Quà tặng của những con ong khôn, 1906)
  • Победа Смерти (Chiến thắng của Cái chết, 1907)
  • Ночные пляски (Xe trượt tuyết đêm, 1908)
  • Мелкий бес (Con quỉ nhỏ, 1909)
  • Заложники жизни (Những con tin của cuộc sống, 1910)
  • Война и мир (Chiến tranh và hòa bình, 1912)
  • Любовь над безднами (Tình yêu trên bờ vực thẳm, 1914)
  • Проводы (Dây dẫn, 1914)
  • Любовь и верность (Tình yêu và lòng chung thủy, 1917)

Các tuyển tập:

  • 1909—1911 Собрание сочинений в 12 томах
  • 1913—1914 Собрание сочинений в 20 томах
  • 2000—2003 Собрание сочинений в 6 томах
  • 2001—2003 Собрание стихотворений в 8 томах

Một vài bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Люби меня ясно, как любит заря
 
Люби меня ясно, как любит заря,
Жемчуг рассыпая и смехом горя.
Обрадуй надеждой и легкой мечтой
И тихо погасни за мглистой чертой.
 
Люби меня тихо, как любит луна,
Сияя бесстрастно, ясна, холодна.
Волшебством и тайной мой мир освети,-
Помедлим с тобою на темном пути.
 
Люби меня просто, как любит ручей,
Звеня и целуя, и мой и ничей,
Прильни и отдайся, и дальше беги.
Разлюбишь, забудешь - не бойся, не лги.
 
Я любил в тебе слиянье
 
Я любил в тебе слиянье
Качеств противоположных:
Глаз правдивых обаянье
И обман улыбок ложных;
 
Кротость девочки-подростка,
Целомудренные грезы -
И бичующие жестко
Обличенья и угрозы;
 
Сострадательную нежность
Над поруганной рабыней -
И внезапную мятежность
Перед признанной святыней.
 
Изменил я тебе
 
Изменил я тебе, неземная,-
Я земную жену полюбил.
Обагрился закат, догорая,
Ароматами нежными мая
Сладкий вечер меня отравил.
 
Под коварным сиреневым цветом,
Улыбаясь и взоры клоня,
Та, земная, пленила меня
Непорочно-лукавым приветом.
 
Я, невеста, тебе изменил,
Очарованный девой телесной.
Я твой холод блаженный забыл.
О, закрой меня ризой небесной
От земных распаляющих сил!
Yêu em như ánh bình minh
 
Hãy yêu em rõ ràng như ánh bình minh
Tuôn châu ngọc và tiếng cười đau khổ
Cùng hy vọng và ước mơ dịu nhẹ
Rồi nhẹ nhàng tắt ngấm ở trong sương.
 
Hãy yêu em êm đềm như ánh trăng thanh
Toả sáng say mê, rõ ràng, lạnh lẽo.
Chiếu lên đời em bí ẩn và huyền diệu
Rồi cùng anh chầm chậm bước trên đường.
 
Hãy yêu em giản đơn như suối như sông
Khi anh là của em, khi ai đấy
Nhận và trao, và một ngày trốn chạy
Thôi yêu và quên, anh chớ bận lòng.
 
Trong em anh yêu ánh hào quang
 
Trong em anh yêu ánh hào quang
Ánh hào quang của những điều trái ngược:
Vẻ quyến rũ của ánh mắt chân thật
Và nụ cười ánh lên vẻ dối gian.
 
Vẻ thùy mị của thiếu nữ trẻ trung
Những ước mơ trinh nguyên và tinh khiết –
Và yêu vẻ phơi bày rất khắc nghiệt
Của sự gièm pha, tố cáo, bóc trần.
 
Anh yêu trong em lòng thương dịu dàng
Với nô tỳ bị người ta lăng nhục
Và yêu cả vẻ nhiệt thành đột ngột
Trước miền đất được thừa nhận linh thiêng.
 
Anh đã phụ tình em
 
Anh đã phụ bạc tình em, thần thánh
Để đi yêu kẻ người thịt mắt trần.
Em yêu ạ, ánh hoàng hôn đỏ thẫm
Và mùi hương dịu nhẹ của tháng năm
Buổi chiều ngọt ngào đã bỏ bùa anh.
 
Dưới màu tím tử đinh hương tai ác
Và nụ cười, và ánh mắt xiêu lòng
Cái người trần mắt thịt bỏ bùa anh
Bằng câu chào khôn ngoan và trinh bạch.
 
Anh đã phụ tình em, nàng dâu ạ
Thiếu nữ bằng xương thịt bỏ bùa anh
Anh đã quên vẻ lạnh lẽo của em.
Áo lễ trời, hãy khép giùm anh nhé
Để ngăn anh khỏi sức lực trần gian.
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]