HMS Anson (79)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
HMS Anson (79) at Devonport, March 1945.jpg
Thiết giáp hạm HMS Anson (79) tại cảng Devonport, tháng 3 năm 1945
Phục vụ (Anh Quốc) Naval Ensign of the United Kingdom.svg
Đặt tên theo: Đô đốc George Anson
Hãng đóng tàu: Swan Hunter, Wallsend
Đặt lườn: 20 tháng 7 năm 1937
Hạ thủy: 24 tháng 2 năm 1940
Hoạt động: 22 tháng 6 năm 1942
Ngừng hoạt động: tháng 11 năm 1951
Xóa đăng bạ: 18 tháng 5 năm 1957
Số phận: Bị bán để tháo dỡ năm 1957
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp thiết giáp hạm King George V
Trọng tải choán nước: 36.727 tấn (tiêu chuẩn),
42.076 tấn (đầy tải)
Độ dài: 225,6 m (740 ft 1 in) (mực nước)
227,1 m (745 ft 1 in) (chung)
Sườn ngang: 31,4 m (103 ft 2 in)
Mớn nước: 10,5 m (34 ft 4 in)
Động cơ đẩy: 4 × Turbine hơi nước Parsons
8 × nồi hơi ống nước nhỏ Admiralty
4 × trục
chân vịt ba cánh đường kính 4,42 m (14 ft 6 in)
công suất 110.300 mã lực (82,3 MW)[1]
Tốc độ: 54 km/h (29,25 knot)
Tầm xa: 11.100 km ở tốc độ 25,9 km/h
(6.000 hải lý ở tốc độ 14 knot)
Thủy thủ đoàn: 1.553-1.558 (thời bình)
1.900 (thời chiến)
Vũ trang: 10 × pháo BL 355 mm (14 inch) Mk VII (2×4,1×2)
16 × pháo QF 133 mm (5,25 inch) Mk I (8×2)
88 × pháo QF 2 pounder 40 mm "pom-pom" (8×8,6×4)
8 × pháo phòng không Bofors 40 mm (2×4)
55 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm (8×2,39×1)
Bọc giáp: Đai giáp chính: 374 mm (14,7 inch)
Đai giáp bên dưới: 137 mm (5,4 inch)
Sàn tàu: cho đến 136 mm (5,38 inch)
Tháp pháo chính: 324 mm (12,75 inch)
Bệ tháp pháo: 324 mm (12,75 inch)
Máy bay mang theo: 2 × thủy phi cơ Supermarine Walrus
Thiết bị bay: 1 × máy phóng hai đầu (tháo dỡ đầu năm 1944)

HMS Anson (79) là một thiết giáp hạm thuộc lớp King George V của Hải quân Hoàng gia Anh Quốc, được chế tạo vào lúc Chiến tranh Thế giới thứ hai sắp nổ ra, và kịp hoàn tất để tham gia một số hoạt động trong cuộc chiến này.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Anson được đặt tên theo Đô đốc George Anson. Được đặt lườn tại xưởng đóng tàu của hãng Swan Hunter tại Wallsend vào ngày 20 tháng 7 năm 1937 và được hạ thủy vào ngày 24 tháng 2 năm 1940; thoạt tiên con tàu được đặt tên theo Đô đốc John Jellicoe, chỉ huy Hạm đội Grand trong trận Jutland, nhưng sau đó được đổi tên thành Anson vào tháng 2 năm 1940.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Anson được đưa ra hoạt động vào ngày 22 tháng 6 năm 1942, giữa lúc cao trào của Chiến tranh Thế giới thứ hai; đảm trách nhiệm vụ hộ tống cho các đoàn tàu vận tải đi đến Liên Xô cũng như là soái hạm của Phó Đô đốc Sir Henry Moore trong Chiến dịch Tungsten.[2] Đến năm 1945, Anson là soái hạm của Hải đội Thiết giáp hạm 1 thuộc Hạm đội Thái Bình Dương. Sau khi chiến tranh kết thúc, vào năm 1946, Anson di chuyển từ Sydney đến Hobart để đón Công tướcNữ công tước Gloucester đưa họ đến Sydney.

Cùng với ba chiếc khác còn lại trong lớp, Anson được cho ngừng hoạt động vào năm 1951 và được tháo dỡ vào năm 1957 tại hãng Shipbreaking Industries, Ltd. ở Faslane, Scotland.

Bộ sưu tập[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Allied Battleships in WW2, Garzke & Dulin, trang 191
  2. ^ http://www.uboat.net/allies/warships/ship/4073.html

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chesneau, Roger (2004) Ship Craft 2: King George V Class Battleships. Chatham Publishing. ISBN 1-86176-211-9

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]