Nelson (lớp thiết giáp hạm)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
HMS Rodney 1943 Malta.jpg
Thiết giáp hạm HMS Rodney (29) thuộc lớp Nelson trong cảng Valletta, Malta, tháng 7 năm 1943
Khái quát về lớp tàu
Tên gọi: Lớp thiết giáp hạm Nelson
Xưởng đóng tàu: Armstrong Whitworth, Walker
Cammell Laird & Company, Birkenhead
Bên sử dụng: Naval Ensign of the United Kingdom.svg Hải quân Hoàng gia Anh
Lớp trước: N3 (kế hoạch)
Revenge (thực tế)
Lớp sau: King George V
Thời gian đóng: 1922 - 1927
Hoàn tất: 2
Nghỉ hưu: 2
Đặc điểm khái quát
Kiểu: Thiết giáp hạm
Trọng tải choán nước: 33.950 tấn (tiêu chuẩn);
38.000 tấn (đầy tải) [1]
Độ dài: 201 m (660 ft) mực nước
216,4 m (710 ft) chung
Sườn ngang: 32,3 m (106 ft)
Mớn nước: 8,7 m (28 ft 6 in) tiêu chuẩn;
9,6 m (31 ft 6 in) (đầy tải)
Động cơ đẩy: 2 × Turbine hơi nước Brown-Curtis
8 × nồi hơi Yarrow, áp suất 1.700 kPa (250 psi)
2 × trục
công suất 45.000 mã lực (33,5 MW)
Tốc độ: 42,6 km/h (23 knot)
Tầm xa: 13.000 km ở tốc độ 30 km/h
(7.000 hải lý ở tốc độ 16 knot)
Thủy thủ đoàn: 1.361
Vũ trang: 9 × pháo BL 406 mm (16 inch) Mk I (3×3)
12 × pháo BL 152 mm (6 inch) Mk XXII (6×2)
6 × pháo QF 119 mm (4,7 inch) Mk VIII
24 × pháo phòng không QF 2 pounder 40 mm (3×8)
16 × súng máy 12,7 mm (0.5 inch) Mk.III "Vickers" (4×4)
2 × ống phóng ngư lôi 622 mm (24,5 inch) Mk.I
Bọc giáp: Đai giáp: 227-355 mm (9-14 inch)
Sàn giữa: 158 mm (6,25 inch) trên hầm đạn, 76 mm (3 inch) trên động cơ
Sàn dưới: 158 mm (6,25 inch) trên bánh lái
Vách ngăn dọc: 38 mm (1,5 inch)
Tháp pháo 16 inch: 178-406 mm (7-16 inch)
Tháp pháo 6 inch: 25-38 mm (1-1,5 inch)
Tháp chỉ huy: 190-343 mm (7,5-13,5 inch)
Tháp điều khiển hỏa lực: 102-152 mm (4-6 inch)
Máy bay mang theo: 1 (Nelson)/2 (Rodney) × máy bay
Thiết bị bay: 1 × máy phóng trên tháp pháo 'B' (Rodney)

Nelson là một lớp thiết giáp hạm bao gồm hai chiếc: NelsonRodney của Hải quân Hoàng gia Anh Quốc, được chế tạo không lâu sau khi Hiệp ước Hải quân Washington năm 1922 có hiệu lực, và tuân thủ theo những giới hạn quy định bởi Hiệp ước này. Chúng là những thiết giáp hạm Anh duy nhất được chế tạo giữa lớp Revenge đặt hàng năm 1913lớp King George V đặt hàng năm 1936.

Những chiếc trong lớp được đặt tên theo các vị Đô đốc Anh nổi tiếng: George Brydges Rodney của trận mũi St. VincentHoratio Nelson, người chiến thắng các trận NileTrafalgar.

Để phù hợp với những giới hạn của Hiệp ước Washington, những con tàu này có một thiết kế bất thường với nhiều đặc tính mới lạ. Chúng thường được xem là những thiết giáp hạm hiệp ước đầu tiên. Lớp Nelson khá độc đáo đối với truyền thống chế tạo thiết giáp hạm Anh, là những chiếc duy nhất mang dàn pháo chính cỡ 406 mm (16 inch), và cũng là những chiếc duy nhất mang toàn bộ dàn pháo chính phía trước cấu trúc thượng tầng.

Được đưa ra hoạt động trong những năm 1927-1930, những chiếc trong lớp Nelson đã phục vụ rộng rãi tại Đại Tây Dương, Địa Trung Hải và Ấn Độ Dương trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Rodney trở nên nổi tiếng do vai trò nổi bật trong việc đánh chìm thiết giáp hạm Đức Bismarck vào tháng 5 năm 1941. Cả hai chiếc đều bị tháo dỡ trong những năm 1948-1949.

Bối cảnh lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trận Jutland đã chỉ ra giá trị của hỏa lực và sự bảo vệ bằng vỏ giáp so với tốc độ và sự cơ động;[2] vì vậy, thế hệ tàu chiến Anh Quốc tiếp theo sau đã tích hợp những bài học này. Sau khi Chiến tranh Thế giới thứ nhất kết thúc, Bộ Hải quân vạch ra những kế hoạch cho những chiếc tàu chiến-tuần dương và thiết giáp hạm đồ sộ có, vỏ giáp nặng, to hơn và mạnh hơn nhiều so với mọi tàu chiến trước đó. Lớp tàu chiến-tuần dương G3 sẽ trang bị cỡ pháo 406 mm (16 inch); và lớp thiết giáp hạm N3 sẽ có chín khẩu pháo 457 mm (18 inch), sẽ là những tàu chiến mạnh nhất nổi trên mặt nước. Hải quân Hoàng gia Anh có kế hoạch duy trì sự thống trị trên mặt biển trong cuộc chạy đua vũ trang đang bùng phát, bất chấp những tàu chiến lớn đang được trù định tại Nhật BảnHoa Kỳ.[3]

Việc phát triển bất ngờ bị cắt giảm bởi Hiệp ước Hải quân Washington năm 1922, vốn đã làm ngưng lại cuộc chạy đua vũ trang hải quân. Bốn chiếc tàu chiến-tuần dương đã đặt hàng bị hủy bỏ; một số vật liệu cần thiết sau đó đã được sử dụng cho NelsonRodney. Hiệp ước giới hạn trọng lượng rẽ nước của thiết giáp hạm thuộc mọi quốc gia ở mức 35.000 tấn và cỡ pháo tối đa 406 mm (16 inch). Người Anh đã thành công trong việc đảm bảo là định nghĩa về trọng lượng rẽ nước tối đa – mệnh danh "trọng lượng rẽ nước tiêu chuẩn" – không bao gồm nhiên liệu và nước cấp cho nồi hơi. Họ đã tranh luận về chiến lược trải rộng của Đế quốc Anh có nghĩa là những con tàu của họ phải mang theo nhiều hơn nhiên liệu và nước, và họ không thể bị thiệt hại so với những nước như Pháp và Ý, vốn hoạt động gần hơn các căn cứ của chúng. Kết quả là, có thể tích hợp những đai giáp chống ngư lôi bên trong đổ đầy nước, chỉ góp thêm phần trọng lượng "khô" (tiêu chuẩn) và do đó không tính vào giới hạn của Hiệp ước.[3]

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Những giới hạn của Hiệp ước chắn chắn dẫn đến những thỏa hiệp trong thiết kế của hai chiếc tàu chiến mới, và kết quả là lớp Nelson phải hy sinh động lực và tốc độ để được trang bị vũ khí và bảo vệ tốt. Chúng thường được gọi là lớp "cây anh đào",[4] do "bị cắt giảm bởi Washington". Nhu cầu giới hạn trọng lượng rẽ nước đã đưa đến một thiết kế tàu chiến mới từ căn bản, được rút ra từ các thiết kế G3 và N3. Nhằm giảm trọng lượng của vỏ giáp, các tháp pháo chính được bố trí toàn bộ phía trước, rút ngắn chiều dài của vỏ giáp cần thiết. Các lớp G3 và N3 bố trí hai tháp pháo phía trước và một phía sau cầu tàu, nhưng trên lớp Nelson, chúng được dồn hết về một đầu, khi cả ba tháp pháo được bố trí phía trước cầu tàu; khi tháp súng 'B' bố trí bên trên tháp pháo 'A', còn tháp pháo 'Q' trên sàn tàu chính phía sau tháp 'B', nên không thể bắn trực tiếp ra trước mũi hay sau đuôi tàu. Dàn pháo hạng hai được bố trí trên các tháp súng kín nước được điều khiển trung tâm ngay trên sàn tàu chính và được nhóm về phía sau – một yếu tố cải tiến khác vay mượn từ thiết kế của G3 và N3.[3]

Trọng lượng vỏ giáp cũng được giới hạn bằng cách sử dụng đai giáp bên trong nghiêng. Độ dốc giúp gia tăng bề dày tương đối của đai giáp đối với một đầu đạn bắn tới. Cách sắp đặt bên trong được dự định để cung cấp một đường đi đề kháng kém hướng áp lực nổ của quả ngư lôi hướng ra ngoài con tàu bằng những tấm thép dời chỗ được, mặc dù biện pháp này không thành công. Vỏ bên ngoài của lườn tàu không được bọc giáp: lớp vỏ ngoài được dự tính làm kích nổ quả đạn pháo vốn sẽ phát nổ bên ngoài vỏ giáp. Sơ đồ vỏ giáp được thiết kế theo nguyên tắc "tất cả hoặc không có gì"; các khu vực được bảo vệ tốt hoặc là không bảo vệ gì cả, loại bỏ nhiều độ dày vỏ giáp trung gian thường thấy trên các thiết kế cũ trước đây. Lần đầu tiên một thiết giáp hạm Anh có một lớp giáp sàn tàu dày duy nhất để bảo vệ chống lại đạn pháo đâm xuyên và bom thả từ máy bay.

Hệ thống động lực cũng bị giới hạn do cần thiết về trọng lượng, kích cỡ và công suất, nên chỉ vận hành có hai trục; mọi thiết giáp hạm Anh kể từ chiếc Dreadnought năm 1906 đều có bốn trục. Nhằm để cho khói thoát ra không che khuất cấu trúc thượng tầng, các phòng nồi hơi được di chuyển phía sau các phòng động cơ, và thoát khói vào một ống khói duy nhất – một đặc tính độc đáo khác trong các thiết giáp hạm Anh. Do bị giới hạn về động lực, lườn tàu được cấu tạo theo dạng hiệu quả về thủy động học nhằm đạt được tốc độ tối đa có thể.

Cấu trúc thượng tầng lớn có mặt cắt hình tam giác đôi khi được gọi là "Lâu đài Hoàng hậu Anne", do kiểu dáng tương tự với tòa nhà cùng tên 14 tầng xây bằng gạch tại vị trí đối diện với Trạm tàu điện ngầm Công viên St. James tại London. Cấu trúc thượng tầng cung cấp chỗ làm việc rộng rãi, kín nước cho các sĩ quan hoa tiêu và mọi sĩ quan hạm đội có mặt trên tàu. Nó còn là một tháp chỉ huy khẩn cấp bên dưới bệ và các bộ dẫn hướng kiểm soát hỏa lực cho dàn pháo chính phía trên đỉnh, nhưng có vỏ giáp nhẹ chỉ đủ chống lại mảnh đạn nhằm nhằm làm nhẹ bớt. Các biện pháp tiết kiệm trọng lượng còn bao gồm việc sử dụng các vật liệu nhẹ như nhôm trong trang bị, và gỗ linh sam thay thế cho gỗ teak để lót sàn, cho dù trong thực tế sàn gỗ teak được trang bị trong những năm 1920, sau khi có mối lo ngại là con tàu không thể bắn một loạt pháo toàn bộ qua mạn tàu mà không gây tổn hại cho cấu trúc của sàn tàu.

Lớp Nelson là một thiết kế thỏa hiệp, nên không ngạc nhiên là nó có những khiếm khuyết. Sự sắp xếp của cấu trúc thượng tầng lui về phía sau gây những vấn đề về cơ động khi gió lớn, khi mà cấu trúc thượng tầng gây ra hiệu ứng giống như cánh buồm làm con tàu bị tạt theo chiều gió như cái chong chóng khi di chuyển ở tốc độ thấp. Đây là một vấn đề đặc biệt nguy hiểm trong những cảng đông đúc chật chội, khi con tàu khó cặp cảng. Chúng cũng khó xoay chuyển, và khó bẻ lái khi chạy lùi. Điều này được quy cho là do chỉ có hai trục chân vịt và một bánh lái trung tâm duy nhất ngoài tầm quay của chân vịt. Tuy nhiên khi ở ngoài biển khơi, chúng được báo cáo là hoạt động tốt.

Việc bố trí đai giáp nghiêng đã gia tăng sự nguy hiểm của những quả đạn pháo bơi ngầm bên dưới đai giáp. Với những chuyển động của sóng dọc theo lườn tàu hoặc tàu nghiêng do chủ định khi cơ động hoặc do hư hại, con tàu gặp phải nguy cơ từ những quả đạn pháo xâm nhập hầu như không bị ngăn chặn vào các khoang mang tính sống còn. Trong những thông tin được công bố rộng rãi, Bộ Hải quân Anh luôn trình bày lớp vỏ giáp nghiêng sâu hơn là như trong thực tế.

Các khẩu pháo 406 mm (16 inch) của dàn pháo chính được bố trí trên những tháp pháo ba nòng, là những thiết giáp hạm Hải quân Hoàng gia duy nhất có đặc tính này. Bản thân các khẩu pháo này cũng tách rời khỏi tiêu chuẩn thiết kế Anh. Khi mà các vũ khí Hải quân Hoàng gia trước đây bắn các đầu đạn với lưu tốc vừa phải, vũ khí trang bị cho Nelson lại đi theo thực hành của người Đức khi có đầu đạn nhẹ hơn với lưu tốc cao. Thay đổi về chính sách này là do những thử nghiệm mà người Anh thực hiện trên các thiết bị của Đức sau chiến tranh, cho dù những thử nghiệm tiếp theo đưa đến kết quả trái ngược; và những vũ khí này chưa bao giờ được xem là thành công như kiểu BL 380 mm (15 inch)/42 caliber Mark I trước đó. Các khẩu pháo này phải chịu đựng độ hao mòn nòng súng đáng kể và độ phân tán lớn trên sơ đồ điểm đạn rơi. Kết quả là lưu tốc đầu đạn phải được giảm xuống kéo theo sự suy giảm sức mạnh đâm xuyên. Cần có một đầu đạn nặng hơn để khắc phục điểm yếu này, nhưng chi phí chế tạo kiểu đạn pháo mới, cũng như cải biến các thiết bị chứa và chuyển đầu đạn, lại đặt ra vào lúc mà ngân quỹ dành cho Hải quân Hoàng gia bị cắt giảm mạnh. Nhu cầu phải giảm trọng lượng và việc sử dụng tháp pháo ba nòng cũng dẫn đến những vấn đề về máy móc vận chuyển và nạp đạn. Sự sáp nhập nhiều đặc tính an toàn có được với các vật liệu nhẹ hơn khiến cho các thiết bị phức tạp nhưng tương đối mong manh phải được bảo trì liên tục trong suốt tuổi đời con tàu. Những con tàu này được trang bị hệ thống kiểm soát hỏa lực HACS cho pháo phòng không và kiểu Admiralty Fire Control Table Mk I để điều khiển dàn hỏa lực chính.

Cuối cùng, tiếng nổ của các khẩu súng làm ngắt quãng công việc của các sĩ quan trên cầu tàu đến mức mà các khẩu pháo thường bị cấm không được bắn qua mạn về phía sau. Những nỗ lực lớn đã được thực hiện nhằm tìm cách khắc phục điều này, nhưng không có giải pháp nào đem lại hiệu quả; kể cả việc trang bị kính tôi an toàn cho các cửa sổ trên cầu tàu, nhưng sức ép của các khẩu pháo khi bắn làm vỡ tung chúng và phủ đầy cầu tàu với những mảnh thủy tinh bay tứ tung.

Hình chiếu 3 chiều sơ đồ chiếc HMS Nelson như nó hiện hữu vào năm 1931, với một thủy phi cơ Fairey Flycatcher ở giữa tàu.

Do hình dáng khá khác thường của chúng, HMS Nelson và tàu chị em Rodney bị Hải quân Hoàng gia đặt những cái tên lóng châm biếm NelsolRodnol – những vấn đề trong khi cơ động và kiểu dáng chỉ có một ống khói duy nhất gợi nhớ những chiếc tàu chở dầu, và một loạt các tàu chở dầu hạm đội được chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất mang những cái tên tận cùng bằng "ol".[5]

Một lời đồn đại được lưu truyền khá lâu là những con tàu này không thể bắn toàn bộ qua mạn (tất cả các khẩu pháo chính) vì sẽ gây tổn hại cho cấu trúc của sàn tàu. Điều này đã được chính thức phủ nhận trong hoạt động của Rodney khi đánh chìm thiết giáp hạm Đức Bismarck lúc mà tất cả các khẩu pháo đã bắn qua mạn mà không gây hiệu ứng ngược nào.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Hai chiếc trong lớp được đặt tên theo các vị Đô đốc Anh nổi tiếng: George Brydges RodneyHoratio Nelson. Được đưa vào hoạt động trong những năm 1927-1930, những chiếc trong lớp Nelson đã phục vụ rộng rãi tại Đại Tây Dương, Địa Trung Hải và Ấn Độ Dương trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Rodney trở nên nổi tiếng do vai trò nổi bật trong việc đánh chìm thiết giáp hạm Đức Bismarck vào tháng 5 năm 1941. Vào cuối chiến tranh, cả hai đều khó có thể tiếp tục hoạt động nếu như không được đại tu và tái trang bị đáng kể, và đã bị hao mòn.[6] Chúng bị tháo dỡ không lâu sau khi chiến tranh kết thúc.

Những chiếc trong lớp[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu Đặt lườn Hạ thủy Hoạt động Số phận
Nelson (28) 28 tháng 12 năm 1922 3 tháng 9 năm 1925 15 tháng 8 năm 1927 Bị bán để tháo dỡ 19 tháng 3 năm 1948
Rodney (29) 28 tháng 12 năm 1922 17 tháng 12 năm 1925 7 tháng 12 năm 1927 Bị bán để tháo dỡ 19 tháng 3 năm 1948


Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Nelson class battleship tại Wikimedia Commons

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lenton, H. T. British and Empire Warships of the Second World War. Greenhill Books. ISBN 1-85367-277-7. 
  2. ^ Angus Konstam, British Battleships 1939-45 (II), Osprey Publishing.
  3. ^ a ă â Preston, Anthony. Battleships. 
  4. ^ Một trong những truyền thuyết về George Washington cho rằng ông đã đốn bỏ cây anh đào của cha mình, cho dù không có chứng cứ nào xác nhận việc này
  5. ^ http://www.ibiblio.org/maritime/media/index.php?cat=1075
  6. ^ Brown D K Nelson to Vangaurd

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Siegfried Breyer, Battleships and Battlecruisers 1905-1970 (Doubleday and Company; Garden City, New York, 1973) (originally published in German as Schlachtschiffe und Schlachtkreuzer 1905-1970, J.F. Lehmanns, Verlag, Munchen, 1970). Contains various line drawings of the ships in various configurations.
  • Robert Gardiner, ed. (1980). Conway’s All the World’s Fighting Ships 1922 - 1946. London: Conway Maritime Press.