Lớp tàu khu trục B

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
HMS Bulldog.jpg
Tàu khu trục Bulldog với những cải tiến trong thời chiến
Khái quát về lớp tàu
Bên sử dụng: Naval Ensign of the United Kingdom.svg Hải quân Hoàng gia Anh
Naval Ensign of Greece.svg
Hải quân Hy Lạp
Lớp trước: Lớp tàu khu trục A
Lớp sau: Lớp tàu khu trục C và D
Thời gian hoạt động: 1930 - 1947
Hoàn tất: 9
Bị mất: 5
Nghỉ hưu: 4
Đặc điểm khái quát Nguồn: Whitley[1]
Kiểu: Tàu khu trục
Trọng tải choán nước: 1.360 tấn Anh (1.380 t) (tiêu chuẩn)
1.790 tấn Anh (1.820 t) (đầy tải)
Độ dài: 323 ft (98 m) (chung)
Sườn ngang: 32,25 ft (9,83 m)
Mớn nước: 12,25 ft (3,73 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Parsons (riêng Basilisk, Beagle: turbine Brown-Curtis)
3 × nồi hơi ống nước Admiralty
2 × trục
công suất 34.000 shp (25.000 kW)
Tốc độ: 35,25 hải lý một giờ (65,28 km/h)
Tầm xa: 4.800 nmi (8.890 km; 5.520 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
138
Vũ trang: 4 × pháo QF 4 in (100 mm) Mk. IX L/45 trên bệ Mk.XIV (4×1)
2 × pháo QF 2 pounder Mk.II L/39 (40 mm) phòng không trên bệ Mk.II (2×1)
8 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (2×4)
25 × mìn sâu
Đặc điểm khái quát (Keith)
Kiểu: Tàu khu trục chỉ huy
Trọng tải choán nước: 1.400 tấn Anh (1.400 t) (tiêu chuẩn)
1.821 tấn Anh (1.850 t) (đầy tải)
Độ dài: 323,2 ft (98,5 m) (chung)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
175
Ghi chú: Các đặc tính khác giống như trên

Lớp tàu khu trục B bao gồm chín tàu khu trục của Hải quân Hoàng gia Anh Quốc, được đặt hàng như một phần của Dự trù Ngân sách Hải quân 1928, được hạ thủy vào năm 1930 và nhập biên chế vào năm 1931. Lớp này có đặc tính tương tự như lớp A dẫn trước, chỉ với những cải tiến nhỏ. Chúng được sử dụng rộng rãi trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, và năm chiếc đã bị đánh chìm trong chiến đấu; HMS Blanche (H47) có số phận không may là tàu chiến đầu tiên của Anh bị đánh chìm trong chiến tranh,[1] khi nó trúng mìn tại cửa sông Thames chỉ hai tháng sau khi chiến tranh được tuyên bố.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Khác biệt chính của lớp B so với lớp A là chúng được cung cấp thiết bị quét mìn thay cho trang bị Asdic (sonar) và mìn sâu để phù hợp hơn cho nhiệm vụ chống tàu ngầm.

Không giống soái hạm khu trục của lớp A, HMS Keith (D06) được chế tạo dựa trên cùng lườn tàu của các tàu chị em; chiếc soái hạm to hơn HMS Codrington (D65) của lớp A tỏ ra không tương thích chiến thuật đối với chi hạm đội mà nó chỉ huy, khi có tốc độ nhanh hơn vài knot và bán kính hoạt động cũng rộng hơn.[2] Hậu quả là Keith quá nhỏ để có thể chứa toàn thể ban tham mưu đơn vị, và Blanche được trang bị như một tàu chỉ huy hải đội để chuyên chở những người còn lại.

Các cải tiến trong chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Những chiếc bị mất sớm trong chiến tranh chỉ có ít cải tiến, nếu có chỉ giới hạn trong việc thay thế các ống phóng ngư lôi phía sau bằng một khẩu đội QF 12 pounder phòng không. Giống như những tàu khu trục cũ của Anh đương thời, chúng được chuyển sang nhiệm vụ hộ tống các đoàn tàu vận tải khi các con tàu mới hơn đã sẵn sàng cho những nhiệm vụ ở hạm đội. Công việc cải tiến bao gồm việc bổ sung pháo 12-pounder phòng không nêu trên, hạ thấp cột ăn-ten trước để cải thiện góc bắn của vũ khí. Tháp pháo ‘Y’ được tháo dỡ để lấy thêm chỗ cho thiết bị thả mìn sâu. Một bộ radar bước sóng mét Kiểu 286 cồng kềnh được bổ sung cho một số con tàu khi nó sẵn có. Dựa trên thiết bị ASV của Không quân Hoàng gia Anh, và được dự định dùng để cảnh báo tàu ngầm đối phương nổi lên mặt nước, thiết bị này bao gồm một ăn-ten cố định quét một góc trước mũi tàu, đòi hỏi con tàu phải thường xuyên đổi hướng để thay đổi hướng quét.

Pháo 12-pounder phòng không sau này được tháo dỡ trên những tàu còn sống sót, lấy chỗ để mang thêm mìn sâu. Pháo phòng không QF 2 pounder cũng được thay bằng QF 20 mm Oerlikon khi chúng sẵn có, và tăng cường thêm một cặp vào vị trí của đèn pha tìm kiếm. HMS Bulldog (H91) sau này được thêm một cặp lên tổng cộng 6 khẩu Oerlikon. HMS Beagle (H30), HMS Brilliant (H84)Bulldog sau này được trang bị radar cải tiến thay cho máy đo tầm xa và bộ điều khiển hỏa lực; radar bước sóng centi-mét Kiểu 271 trở nên rất hữu ích khi có thể phát hiện kính tiềm vọng của tàu ngầm đối phương ở những điều kiện thích hợp. BulldogBeagle được tháo dỡ tháp pháo 'A' để trang bị Hedgehog, một dàn súng cối chống tàu ngầm bắn ra phía trước. Bulldog còn được trang bị một khẩu pháo QF 2 pounder Mk.VIII trước mũi vào năm 1944 để đối phó với mối đe dọa của các tàu E boat Đức.[1]

Những chiếc trong lớp[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu Đặt lườn Hạ thủy Hoạt động Số phận
HMS Keith 1 tháng 10, 1929 10 tháng 7, 1930 20 tháng 3, 1931 Bị máy bay Đức đánh chìm, 1 tháng 6, 1940
HMS Basilisk 19 tháng 8, 1929 6 tháng 8, 1930 4 tháng 3, 1931 Bị đánh đắm bởi không kích, 1 tháng 6, 1940
HMS Beagle 11 tháng 10, 1929 26 tháng 9, 1930 9 tháng 4, 1931 Ngừng hoạt động 24 tháng 5, 1945; bán để tháo dỡ, tháng 12, 1945
HMS Blanche 29 tháng 7, 1929 29 tháng 5, 1930 14 tháng 2, 1931 Bị đắm do trúng mìn, 14 tháng 11, 1939
HMS Boadicea 11 tháng 7, 1929 23 tháng 9, 1930 7 tháng 4, 1931 Bị đánh chìm trong chiến đấu tại vịnh Lyme, 13 tháng 6, 1944
HMS Boreas 22 tháng 7, 1929 11 tháng 6, 1930 20 tháng 2, 1931 Chuyển cho Hải quân Hoàng gia Hy Lạp, 1944; trả cho Anh và bán để tháo dỡ, 1951
HMS Brazen 22 tháng 7, 1929 25 tháng 7, 1930 8 tháng 4, 1931 Bị máy bay Đức đánh chìm, 20 tháng 7, 1940
HMS Brilliant 09 tháng 10, 1930 21 tháng 2, 1931 Ngừng hoạt động 1945; bán để tháo dỡ, 1948
HMS Bulldog 10 tháng 8, 1929 6 tháng 12, 1930 8 tháng 4, 1931 Ngừng hoạt động và bán để tháo dỡ 1945

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Whitley, M. J. (1988). Destroyers of World War Two. Cassell Publishing. ISBN 1-85409-521-8. 
  2. ^ Lenton, H. T. British and Empire Warships of the Second World War. Greenhill Books. ISBN 1-85367-277-7. 
  • English, John (1993). Amazon to Ivanhoe: British Standard Destroyers of the 1930s. Kendal, England: World Ship Society. ISBN 0-905617-64-9. 
  • Friedman, Norman (2009). British Destroyers From Earliest Days to the Second World War. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 978-1-59114-081-8. 
  • Lenton, H. T. (1998). British & Commonwealth Warships of the Second World War. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-55750-048-7. 
  • Rohwer, Jürgen (2005). Chronology of the War at Sea 1939-1945: The Naval History of World War Two . Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-59114-119-2. 
  • Whitley, M. J. (1988). Destroyers of World War 2. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-326-1. 

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]