Lớp tàu khu trục E và F

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
HMS Electra.jpg

Tàu khu trục HMS Electra (H27)
Khái quát về lớp tàu
Bên sử dụng: Naval Ensign of the United Kingdom.svg Hải quân Hoàng gia Anh
Canadian Blue Ensign 1957-1965.svg Hải quân Hoàng gia Canada
Hải quân Hoàng gia Hy Lạp
Flag of the Dominican Republic Hải quân Dominica
Lớp trước: lớp C và D
Lớp sau: lớp G và H
Lớp con: E, F
Thời gian hoạt động: 1932 - 1956
Hoàn tất: 18
Bị mất: 10
Nghỉ hưu: 8
Đặc điểm khái quát theo Lenton[1]
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục E và F
Kiểu: Tàu khu trục
Trọng tải choán nước: 1.405 tấn Anh (1.428 t) (tiêu chuẩn)
1.940 tấn Anh (1.970 t) (đầy tải)
Độ dài: 329 ft (100 m) (chung)
Sườn ngang: 33 ft 3 in (10,13 m)
Mớn nước: 12 ft 6 in (3,81 m) (đầy tải)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Parsons
3 × nồi hơi ống nước Admiralty
2 × trục
công suất 38.000 shp (28.000 kW)
Tốc độ: 35,5 kn (65,7 km/h)
Tầm xa: 6.350 nmi (11.760 km) at 15 kn (28 km/h)
1.275 nmi (2.361 km) ở tốc độ 35,5 kn (65,7 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
145
Vũ trang: 4 × pháo QF 4,7 inch (120 mm) Mk. IX L/45 đa dụng (4×1);
8 × súng máy 0,5 in (13 mm) Mk.I phòng không (2×4);
8 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm)
20 × mìn sâu
Đặc điểm khái quát (EskExpress như tàu rải mìn)
Vũ trang: 2 × pháo QF 4,7 inch (120 mm) Mk. IX L/45 đa dụng (2×1);
60 × [[|thủy lôi|mìn]] Mk. XVI
Ghi chú: Các đặc tính khác như trên
Đặc điểm khái quát (soái hạm khu trục)
Trọng tải choán nước: 1.495 tấn Anh (1.519 t) (tiêu chuẩn)
2.050 tấn Anh (2.080 t) (đầy tải)
Độ dài: 343 ft (105 m) (chung)
Sườn ngang: 33 ft 9 in (10,29 m)
Tốc độ: 36 kn (67 km/h)
Tầm xa: 6.500 nmi (12.000 km) ở tốc độ 15 kn (28 km/h)
1.500 nmi (2.800 km) ở tốc độ 36 kn (67 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
175
Vũ trang: 5 × pháo QF 4,7 inch (120 mm) Mk. IX L/45 đa dụng (5×1)
Ghi chú: Các đặc tính khác như trên

Lớp tàu khu trục E và F bao gồm 18 tàu khu trục của Hải quân Hoàng gia Anh Quốc. Lớp E được đặt hàng trong Chương trình chế tạo 1931, còn lớp F trong Chương trình chế tạo 1932, chúng được hạ thủy vào năm 1934 và đã phục vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Ba chiếc sau đó đã được chuyển cho Hải quân Hoàng gia Canada; một chiếc cho Hải quân Hoàng gia Hy Lạp và một chiếc khác cho Hải quân Dominica. Chín chiếc đã bị mất, cùng một chiếc khác bị loại bỏ do hư hại quá nặng trong chiến tranh.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Lần đầu tiên kể từ khi lớp tàu khu trục A được chế tạo trong Chương trình Hải quân 1927, soái hạm khu trục được chế tạo theo một thiết kế mở rộng, được kéo dài để bổ sung thêm một khẩu pháo QF 4,7 inch (120 mm) giữa các ống khói. Thiết kế kéo dài đưa đến việc bố trí ba phòng nồi hơi để tăng cường độ kín nước.[2] Các soái hạm khu trục không được trang bị tính năng rải mìn hay quét mìn.

Những chiếc trong lớp[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Đặt lườn Hạ thủy Hoàn tất Số phận
Lớp E
HMS Echo (H23) 20 tháng 3, 1933 16 tháng 2, 1934 22 tháng 10, 1934 Chuyển cho Hải quân Hoàng gia Hy Lạp dưới tên Navarinon, 1944; hoàn trả cho Anh, 1956, bán để tháo dỡ
HMS Eclipse (H08) 22 tháng 3, 1933 12 tháng 4, 1934 29 tháng 11, 1934 Chìm do trúng mìn ngoài khơi Kalymnos, Hy Lạp, 24 tháng 10, 1943
HMS Electra (H27) 15 tháng 3, 1933 15 tháng 2, 1934 13 tháng 9, 1934 Bị tàu tuần dương hạng nhẹ Nhật Jintsu đánh chìm trong Trận chiến biển Java, 27 tháng 2, 1942
HMS Encounter (H10) 15 tháng 3, 1933 29 tháng 3, 1934 2 tháng 11, 1934 Đánh đắm sau khi bị các tàu tuần dương hạng nặng Nhật AshigaraMyōkō đánh hỏng trong Trận chiến biển Java thứ hai, 1 tháng 3, 1942
HMS Escapade (H17) 30 tháng 3, 1933 30 tháng 1, 1934 30 tháng 8, 1934 Bán để tháo dỡ, tháng 8, 1947
HMS Escort (H66) 30 tháng 3, 1933 29 tháng 3, 1934 30 tháng 10, 1934 Bị tàu ngầm Ý Guglielmo Marconi đánh hỏng, 8 tháng 7, 1940; chìm trong khi được kéo đi, 11 tháng 7, 1940
HMS Esk (H15) 24 tháng 3, 1933 19 tháng 3, 1934 28 tháng 9, 1934 Chìm do trúng mìn gần Texel, Hà Lan, 31 tháng 8, 1940
HMS Express (H61) 24 tháng 3, 1933 29 tháng 5, 1934 2 tháng 11, 1934 Chuyển cho Hải quân Hoàng gia Canada năm 1943 dưới tên Gatineau; bán để tháo dỡ, 1955
HMS Exmouth (H02) (soái hạm) 15 tháng 5, 1933 7 tháng 2, 1934 9 tháng 11, 1934 Bị tàu ngầm Đức U-22 đánh chìm tại Moray Firth, 21 tháng 1, 1940
Lớp F
HMS Fame (H78) 5 tháng 7, 1933 28 tháng 6, 1934 26 tháng 4, 1935 Chuyển cho Hải quân Dominica năm 1949 dưới tên Generalisimo; đổi tên thành Sanchez, 1962; bị tháo dỡ, 1968
HMS Fearless (H67) 17 tháng 3, 1933 12 tháng 5, 1934 22 tháng 12, 1934 Trúng ngư lôi của máy bay Ý tại Địa Trung Hải, 12 tháng 7, 1941; đánh đắm, 23 tháng 7, 1941
HMS Firedrake (H79) 5 tháng 7, 1933 28 tháng 6, 1934 30 tháng 5, 1935 Bị tàu ngầm Đức U-211 đánh chìm, 16 tháng 12, 1942
HMS Foresight (H68) 21 tháng 7, 1933 29 tháng 6, 1934 15 tháng 5, 1935 Trúng ngư lôi của máy bay Ý, 12 tháng 8, 1942; đánh đắm cùng ngày
HMS Forester (H74) 15 tháng 5, 1933 28 tháng 6, 1934 29 tháng 3, 1935 Bán để tháo dỡ, 22 tháng 1]], 1946
HMS Fortune (H70) 25 tháng 7, 1933 29 tháng 8, 1934 27 tháng 4, 1935 Chuyển cho Hải quân Hoàng gia Canada năm 1943 dưới tên Saskatchewan; ngừng hoạt động 26 tháng 1, 1946
HMS Foxhound (H69) 21 tháng 8, 1933 12 tháng 10, 1934 6 tháng 6, 1935 Chuyển cho Hải quân Hoàng gia Canada năm 1944 dưới tên Qu'Appelle; ngừng hoạt động 27 tháng 5, 1946
HMS Fury (H76) 19 tháng 5, 1933 10 tháng 9, 1934 18 tháng 5, 1935 Trúng mìn ngoài khơi Normandy, 21 tháng 6, 1944; tháo dỡ do hư hại không thể sửa chữa, 18 tháng 9, 1944
HMS Faulknor (H62) (soái hạm) 31 tháng 7, 1933 12 tháng 6, 1934 24 tháng 5, 1935 Bán để tháo dỡ, 22 tháng 1, 1946

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ British and Empire Warships of the Second World War, H. T. Lenton, Greenhill Books, ISBN 1-85367-277-7
  2. ^ Whitley 1988

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • English, John (1993). Amazon to Ivanhoe:British Standard Destroyers of the 1930s. Kendal, England: World Ship Society. ISBN 0-905617-64-9. 
  • Whitley, M. J. (1988). Destroyers of World War 2. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-326-1. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]