HMS Fortune (H70)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
HMS Fortune 1943 IWM FL 13249.jpg
Tàu khu trục HMS Fortune vào tháng 6, 1943
Phục vụ (Anh Quốc) Naval Ensign of the United Kingdom.svg
Tên gọi: HMS Fortune
Hãng đóng tàu: John Brown & Company, Clydebank
Đặt lườn: 25 tháng 7, 1933
Hạ thủy: 29 tháng 8, 1934
Nhập biên chế: 27 tháng 4, 1935
Số phận: Chuyển cho Hải quân Hoàng gia Canada vào ngày 31 tháng 5, 1943
Phục vụ (Canada)
Tên gọi: HMCS Saskatchewan (H70)
Đặt tên theo: sông Saskatchewan
Nhập biên chế: 31 tháng 5, 1943
Xuất biên chế: 28 tháng 1, 1946
Số phận: Bị tháo dỡ
Đặc điểm khái quát theo Lenton[1]
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục E và F
Trọng tải choán nước: 1.405 tấn Anh (1.428 t) (tiêu chuẩn)
1.940 tấn Anh (1.970 t) (đầy tải)
Độ dài: 318 ft 3 in (97,00 m) (mực nước)
329 ft (100 m) (chung)
Sườn ngang: 33 ft 3 in (10,13 m)
Mớn nước: 12 ft 6 in (3,81 m) (đầy tải)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Parsons
3 × nồi hơi ống nước Admiralty
2 × trục
công suất 38.000 shp (28.000 kW)
Tốc độ: 35,5 kn (65,7 km/h)
Tầm xa: 6.350 nmi (11.760 km) at 15 kn (28 km/h)
1.275 nmi (2.361 km) ở tốc độ 35,5 kn (65,7 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
145
Vũ trang: 4 × pháo QF 4,7 inch (120 mm) Mk. IX L/45 đa dụng (4×1);
8 × súng máy 0,5 in (13 mm) Mk.I phòng không (2×4);
8 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm)
20 × mìn sâu

HMS Fortune (H70) là một tàu khu trục lớp F được Hải quân Hoàng gia Anh Quốc chế tạo vào đầu những năm 1930. Sau các hoạt động ban đầu trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, bao gồm việc đánh chìm một tàu ngầm U-boat Đức vào năm 1939, nó được chuyển giao cho Hải quân Hoàng gia Canada và hoạt động như một chiếc thuộc lớp River dưới tên gọi HMCS Saskatchewan (H70) từ năm 1944 đến năm 1946.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Lớp tàu khu trục F có đặc tính tương tự như Lớp tàu khu trục C và D dẫn trước vào năm 1931, nhưng có dáng lườn tàu và cầu tàu được cải tiến, được bố trí ba phòng nồi hơi thay vì hai, và pháo QF 4,7 inch (120 mm) có thể nâng đến góc 40° thay vì 30° như ở lớp trước.

Fortune được đặt hàng trong Chương trình Chế tạo Hải quân 1932. Nó được đặt lườn vào ngày 25 tháng 7, 1933 tại xưởng tàu của hãng John Brown Shipbuilding & Engineering Company Ltd.Clydebank; được hạ thủy vào ngày 29 tháng 8, 1934 và hoàn tất vào ngày 27 tháng 4, 1935.

HMS Fortune[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 20 tháng 9, 1939, đang khi tuần tra về phía Bắc khu vực tiếp cận phía Tây, Fortune cùng với tàu chị em HMS Forester (H74) được ghi nhận đã đánh chìm tàu ngầm U-boat Đức U-27.[2] Trong mùa Xuân tiếp theo, đang khi hộ tống các đơn vị thuộc Hạm đội Nhà về phía Tây Bắc Shetlands, Fortune được ghi công đã đánh chìm tàu ngầm U-44, cho dù các nghiên cứu sau này cho biết chiếc tàu ngầm bị đắm do đi vào bãi mìn do các tàu khu trục Anh khác rải vào đêm 13 tháng 3, 1940.[3] Đến tháng 4, nó hộ tống các tàu sân bay HMS Ark RoyalHMS Glorious khi những chiếc này hỗ trợ trên không cho cuộc triệt thoái lực lượng Anh khỏi ÅndalsnesNamsos trong Chiến dịch Na Uy.[4]

Vào tháng 9, 1940, Fortune tham gia Chiến dịch Menace hộ tống cho Lực lượng M trong kế hoạch đổ bộ lực lượng Pháp Tự do lên Dakar, một căn cứ quan trọng tại Tây Phi còn do phe Vichy Pháp chiếm giữ. Vào ngày 24 tháng 9, trong cuộc bắn phá xuống Dakar, nó đã đánh chìm tàu ngầm Ajax của phe Vichy, nhưng cứu vớt được 76 người sống sót. Đến tháng 5, 1941, nó bị hư hại do không kích ngoài khơi Algérie; sau khi được sửa chữa tạm thời tại Gibraltar trước khi quay trở về Anh, nó được sửa chữa triệt để tại xưởng tàu Chatham. Công việc chỉ hoàn tất vào tháng 2, 1942, khi nó tham gia vào các đoàn tàu vận tải Malta. Sau đó nó gia nhập Hạm đội Đông.

Vào tháng 1, 1943, Fortune được tái trang bị tại một xưởng tàu tư nhân tại Anh sau khi có thỏa thuận chuyển giao nó cho Hải quân Hoàng gia Canada.

HMCS Saskatchewan[sửa | sửa mã nguồn]

Nó được cho xuất biên chế khỏi Hải quân Hoàng gia vào ngày 31 tháng 5, 1943 để chuyển cho Canada, và được nhập biên chế Hải quân Hoàng gia Canada cùng ngày hôm đó dưới tên gọi HMCS Saskatchewan (H70). Công việc bàn giao chính thức hoàn tất vào tháng 6, 1943, và đến tháng 7, HMCS Saskatchewan gia nhập Đội hộ tống Canada 3 và được đặt làm soái hạm của đội.[4] Nó tiếp tục nhiệm vụ này cho đến hết năm 1943. Từ ngày 6 đến ngày 30 tháng 6, 1944, nó được bố trí cùng Đội hộ tống làm nhiệm vụ chống tàu ngầm hỗ trợ cho Chiến dịch Overlord. Saskatchewan được cho xuất biên chế khỏi Hải quân Hoàng gia Canada vào ngày 28 tháng 1, 1946.

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

HMCS Saskatchewan Chiếc chuông của HMCS Saskatchewan hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Quân sự Vancouver Island ở Nanaimo British Columbia.[5]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ British and Empire Warships of the Second World War, H. T. Lenton, Greenhill Books, ISBN 1-85367-277-7
  2. ^ Mason - September 1939
  3. ^ uboat.net - List of all U-boats - U-44
  4. ^ a ă Mason - April 1940
  5. ^ HMCS Saskatchewan bell at Christening bells

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • English, John (1993). Amazon to Ivanhoe: British Standard Destroyers of the 1930s. Kendal, England: World Ship Society. ISBN 0-905617-64-9. 
  • Friedman, Norman (2009). British Destroyers From Earliest Days to the Second World War. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 978-1-59114-081-8. 
  • Lenton, H. T. (1998). British & Commonwealth Warships of the Second World War. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-55750-048-7. 
  • Rohwer, Jürgen (2005). Chronology of the War at Sea 1939-1945: The Naval History of World War Two . Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-59114-119-2. 
  • Whitley, M. J. (1988). Destroyers of World War 2. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-326-1. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]