Lớp tàu khu trục G và H

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
HMS Gallant (H59) IWM FL 22249.jpg
Gallant, một tàu khu trục lớp G với cách bố trí cầu tàu và phòng lái kiểu truyền thống
Khái quát về lớp tàu
Tên gọi: Lớp tàu khu trục G và H
Bên sử dụng: Naval Ensign of the United Kingdom.svg Hải quân Hoàng gia Anh
 Hải quân Hoàng gia Hy Lạp
 Hải quân Brasil
 Argentina
 Hải quân Ba Lan
 Canada
 Cộng hòa Dominica
 Hải quân Hoàng gia Hà Lan
Lớp trước: lớp E và F
Lớp sau: lớp I
Lớp con: G, H, Havant
Thời gian hoạt động: 1936-1949 (Hải quân Hoàng gia Anh)
Hoàn tất: 24 (Hải quân Hoàng gia Anh)
Bị mất: 16
Nghỉ hưu: 6
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục G và H
Kiểu: Tàu khu trục
Trọng tải choán nước: 1.350 tấn Anh (1.370 t) (tiêu chuẩn)
1.883 tấn Anh (1.913 t) (đầy tải)
Độ dài: 323 ft (98,5 m)
Sườn ngang: 33 ft (10,1 m)
Mớn nước: 12 ft 5 in (3,8 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Parsons;
3 × nồi hơi ống nước Admiralty;
2 × trục;
công suất 34.000 shp (25.000 kW)
Tốc độ: 36 hải lý một giờ (67 km/h; 41 mph)
Tầm xa: 5.530 nmi (10.240 km; 6.360 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
137 (thời bình),
146 (thời chiến)
Vũ trang: 4 × pháo QF 4,7 in (120 mm) Mk IX (4×1);
× súng máy Vickers 0,5 inch (12,7 mm) (2×4);
8 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (2×4);
20 × mìn sâu (1 đường ray & 2 máy phóng)
Đặc điểm khái quát (lớp H)
Trọng tải choán nước: 1.340 tấn Anh (1.360 t) (tiêu chuẩn)
1.859 tấn Anh (1.889 t) (đầy tải)
Động cơ đẩy: như lớp G, ngoại trừ Hyperion; 1 x nồi hơi Admiralty thay bằng kiểu Johnson
Vũ trang: 4 × pháo QF 4,7-inch Mk IX (4×1)
Ghi chú: Các đặc tính khác tương tự lớp G
Đặc điểm khái quát (lớp Havant)
Vũ trang: 3 × pháo QF 4,7-inch Mk IX (3×1)
cho đến 110 mìn sâu
Ghi chú: Các đặc tính khác tương tự lớp H

Lớp tàu khu trục G và H là một lớp gồm 24 tàu khu trục được Hải quân Hoàng gia Anh Quốc chế tạo và hạ thủy từ năm 1935 đến năm 1939; hai chiếc sau đó được chuyển cho Hải quân Hoàng gia Canada và một chiếc cho Hải quân Ba Lan. Chúng đã phục vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, khi mười sáu chiếc đã bị mất và một chiếc thứ mười bảy bị hư hại quá mức sửa chữa hiệu quả. Ngoài ra còn có những chiếc khác cùng đặc tính được chế tạo cho hải quân các nước Argentina, BrasilHy Lạp.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Lớp G[sửa | sửa mã nguồn]

Lớp G được đặt hàng như một phần của Chương trình chế tạo hải quân 1933. Thiết kế của chúng hầu như lặp lại lớp F, với sự cắt giảm kích thước đôi chút do loại bỏ turbine chạy đường trường. Vũ khí trang bị cho lớp G giống như của lớp F, sử dụng pháo QF 4,7 inch (120 mm) Mk. IX L/45 đặt trên bệ trụ xoay Mark XVII làm dàn pháo chính; góc nâng tối đa đến 40° được thực hiện bằng cách tạo một phần sàn tàu thấp hơn gọi là "giếng" (well), cho phép khóa nòng hạ thấp bên dưới mức sàn tàu. HMS Glowworm được thử nghiệm với kiểu dàn ống phóng ngư lôi năm nòng PR Mk. I, trong khi các tàu chị em giữ lại kiểu dàn ống phóng bốn nòng Mk.VIII. Mọi chiếc trong lớp G đều có cột ăn-ten trước ba chân và cột ăn-ten chính dạng cọc.

Lớp H[sửa | sửa mã nguồn]

Lớp H được đặt hàng tiếp nối trong Chương trình chế tạo hải quân 1934. Thiết kế hầu như lặp lại lớp G, nhưng tích hợp giải pháp thỏa đáng hơn cho góc nâng của pháo chính bằng cách bố trí lại đầu khóa nòng của khẩu pháo. Vì vậy bệ CP Mk.XVIII vẫn có góc nâng tối đa 40° mà không cần đến "giếng" sàn tàu. Cho dù kiểu ống phóng ngư lôi năm nòng đã sẵn có sau khi thử nghiệm trên HMS Glowworm, chúng không được trang bị do sự lo ngại trọng lượng nặng bên trên. Các cải tiến trong thiết kế và việc sử dụng rộng rãi kỹ thuật hàn đưa đến kết quả giảm trọng lượng choán nước khoảng 50 tấn Anh (51 t).

HMS HeroHMS Hereward được giới thiệu một thiết kế cầu tàu mới, vốn sẽ trở nên tiêu chuẩn trên mọi tàu khu trục hạm đội từ lớp I cho đến lớp Battle năm 1944. Điều này là cần thiết vì HMS Hereward trang bị một kiểu nguyên mẫu pháo 4,7 inch (120 mm) nòng đôi trên bệ CP Mark XIX vốn sẽ được trang bị cho các lớp Tribal, J, K và N. Kiểu vũ khí này có chiều cao trục cao hơn 13 in (33 cm) so với kiểu vũ khí trước, buộc phải nâng cao phòng lái để người lái tàu có thể nhìn ra phía trước. Điều này buộc phải bố trí phòng lái ở phía trước thay vì bên dưới cầu tàu; và nó có các mặt bọc giáp nghiêng, đưa đến một hình nêm đặc trưng và một mái dốc cho phép quan sát được sàn trước từ cầu tàu. Về cấu trúc bên trong, lớp H tương tự như lớp G, ngoại trừ chiếc HMS Hyperion, có một buồng nồi hơi đơn kiểu Johnson nhỏ hơn, nhẹ hơn và tiết kiệm hơn so với thiết kế Admiralty. Tất cả các con tàu đều có các cột ăn-ten trước và sau dạng cột, và được gắn thiết bị quét mìn kiểu TSDS (Two Speed Destroyer Sweeps).

Các soái hạm khu trục[sửa | sửa mã nguồn]

Giống như lớp E và F, các soái hạm khu trục được chế tạo theo một thiết kế mở rộng, tích hợp thêm một khẩu pháo 4,7 inch thứ năm ở vị trí 'Q' giữa hai ống khói. Chúng dựa trên chiếc dẫn đầu của lớp F HMS Faulknor. HMS Grenville hơi ngắn hơn do nó được trang bị nồi hơi kiểu Yarrow đốt hông gọn gàng hơn. HMS Hardy dễ dàng nhận biết với cột ăn-ten trước ba chân. Cả hai đều bị mất sớm trong chiến tranh nên không có được các cải biến vào thời chiến.

Lớp Havant[sửa | sửa mã nguồn]

HMS Hesperus với màu sơn ngụy trang, trình bày một cầu tàu góc nghiêng áp dụng cho Hero, Hereward và những chiếc nguyên của Brazil

Lớp Havant được đặt lườn vào năm 1938 dành cho Brasil. Chúng có cột ăn-ten trước dạng cột và ăn-ten sau dạng ba chân, được hoàn tất mà không có tháp pháo 'Y' ở sàn sau nhằm tăng số lượng mìn sâu mang theo, và ống khói được cắt ngắn để cải thiện góc bắn của vũ khí phòng không. Ban đầu những chiếc lớp Havant chỉ trang bị máy đo tầm xa, nhưng sau này được kết hợp với bộ điều khiển hỏa lực trên cầu tàu, đối nghịch với hai chức năng riêng biệt trên những con tàu nữa chị em. Sau khi đưa vào biên chế cùng Hải quân Hoàng gia, HandyHearty được đổi tên tương ứng thành HMS HarvesterHMS Hesperus để tránh nhầm lẫn với HMS Hardy.

Sáu chiếc trong lớp Havant thoạt tiên hình thành nên Chi hạm đội Khu trục 9 của Hạm đội Nhà và được phân công nhiệm vụ chống tàu ngầm tại Scapa Flow.[1] Đến cuối năm 1940, Chi hạm đội 9 được chuyển sang Bộ chỉ huy Tiếp cận phía Tây và được đổi tên thành Đội hộ tống 9.[2] Đến tháng 3, 1942, năm chiếc lớp Havant còn lại được đặt làm tàu chỉ huy các đội thuộc Lực lượng Hộ tống giữa đại dương suốt mùa Đông 1942-1943.[3][4][5]

Những chiếc trong lớp[sửa | sửa mã nguồn]

Hải quân Hoàng gia Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Đặt lườn Hạ thủy Hoàn tất Số phận
Lớp G
Gallant 15 tháng 9, 1934 26 tháng 9, 1935 25 tháng 2, 1936 Tổn thất do trúng mìn gần Malta, 20 tháng 1, 1941
Garland 22 tháng 8, 1934 24 tháng 10, 1935 3 tháng 3, 1936 Chuyển cho Hải quân Ba Lan như là chiếc ORP Garland năm 1940, chuyển cho Hải quân Hoàng gia Hà Lan sau chiến tranh và bị tháo dỡ năm 1964
Gipsy 4 tháng 9, 1934 7 tháng 11, 1935 22 tháng 2, 1936 Đắm do trúng mìn gần Harwich, 21 tháng 11, 1939
Glowworm 15 tháng 8, 1934 22 tháng 7, 1935 22 tháng 1, 1936 Đắm do đụng độ với tàu tuần dương Đức Admiral Hipper, 8 tháng 4, 1940
Grafton 30 tháng 8, 1934 18 tháng 9, 1935 20 tháng 3, 1936 Bị tàu ngầm Đức U-62 đánh chìm, 29 tháng 5, 1940
Grenade 3 tháng 10, 1934 12 tháng 11, 1935 28 tháng 3, 1936 Bị không kích đánh chìm trong trận Dunkirk, 29 tháng 5, 1940
Grenville (soái hạm khu trục) 29 tháng 9, 1934 15 tháng 8, 1935 1 tháng 7, 1936 Đắm do trúng mìn, 19 tháng 1, 1940.
Greyhound 20 tháng 9, 1934 15 tháng 8, 1935 1 tháng 2, 1936 Bị máy bay ném bom bổ nhào Đức đánh chìm trong trận Crete, 22 tháng 5, 1941
Griffin 20 tháng 9, 1934 15 tháng 8, 1935 6 tháng 3, 1936 Chuyển cho Hải quân Hoàng gia Canada năm 1943 như là chiếc HMCS Ottawa, tháo dỡ năm 1946
Lớp H
Hardy (soái hạm khu trục) 30 tháng 5, 1935 7 tháng 4, 1936 11 tháng 12, 1936 Bị đánh đắm do hải pháo của tàu khu trục Đức Georg Thiele trong trận Narvik thứ nhất, 10 tháng 4, 1940
Hasty 15 tháng 4, 1935 5 tháng 5, 1936 11 tháng 11, 1936 Trúng ngư lôi của xuồng phóng lôi Đức S-55, 14 tháng 6, 1942; bị Hotspur đánh đắm gần Derna, 15 tháng 6, 1942
Havock 15 tháng 5, 1935 7 tháng 7, 1936 16 tháng 1, 1937 Mắc cạn gần Kelibia, Tunisia và bị đánh đắm, 6 tháng 4, 1942
Hereward 28 tháng 2, 1935 10 tháng 3, 1936 9 tháng 12, 1936 Bị máy bay ném bom bổ nhào Đức đánh chìm gần Plaka, Crete, 29 tháng 5, 1941
Hero 28 tháng 2, 1935 10 tháng 3, 1936 21 tháng 10, 1936 Chuyển cho Hải quân Hoàng gia Canada năm 1943 như là chiếc HMCS Chaudiere, tháo dỡ năm 1945
Hostile 27 tháng 2, 1935 24 tháng 1, 1936 10 tháng 9, 1936 Hư hại do trúng mìn và bị Hero đánh đắm, 23 tháng 8, 1940
Hotspur 27 tháng 2, 1935 23 tháng 3, 1936 29 tháng 12, 1936 Bán cho Hải quân Cộng hòa Dominica, 1949
Hunter 27 tháng 3, 1935 25 tháng 2, 1936 30 tháng 9, 1936 Bị tàu khu trục Đức đánh đắm trong trận Narvik, 10 tháng 4, 1940
Hyperion 27 tháng 3, 1935 8 tháng 4, 1936 3 tháng 12, 1936 Đắm do trúng mìn gần Pantelleria, 22 tháng 12, 1940
Lớp Havant
Harvester (Handy, Jurua) 3 tháng 6, 1938 29 tháng 9, 1939 23 tháng 5, 1940 Bị tàu ngầm Đức U-432 đánh chìm, 11 tháng 3, 1943.
Havant (Javary) 30 tháng 3, 1938 17 tháng 7, 1939 19 tháng 12, 1939 Bị hư hại do không kích trong trận Dunkirk và bị Saltash đánh đắm, 1 tháng 6, 1940
Havelock (Jutahy) 30 tháng 3, 1938 16 tháng 10, 1939 10 tháng 2, 1940 Bị tháo dỡ 1946
Hesperus (Hearty, Juruena) 6 tháng 7, 1938 1 tháng 8, 1939 22 tháng 1, 1940 Bị tháo dỡ 1946
Highlander (Juguaribe) 28 tháng 9, 1938 19 tháng 10, 1939. 18 tháng 3, 1940 Bị tháo dỡ 1947
Hurricane (Japarua) 30 tháng 6, 1938 29 tháng 9, 1939 21 tháng 6, 1940 Bị tàu ngầm Đức U-415 đánh chìm, 24 tháng 12, 1943

Hải quân Argentine[sửa | sửa mã nguồn]

Bảy chiếc tàu khu trục có cùng đặc tính kỹ thuật với lớp G và H đã được chế tạo cho Hải quân Argentine như là lớp Buenos Aires; chúng được chế tạo bởi các hãng Vickers Armstrongs (Barrow) ở Cammell Laird và John Brown & CompanyClydebank, và được bàn giao vào năm 1938.

Hải quân Brazil[sửa | sửa mã nguồn]

Brasil đặt mua của Anh sáu chiếc lớp Jarua vào năm 1938. Những chiếc này bị Anh mua lại khi chiến tranh nổ ra vào năm 1939 và đổi tên thành lớp Havant như được mô tả bên trên. Để thay thế, Brazil quyết định tự sản xuất tàu khu trục, lớp Acre, tại xưởng tàu Ilha das Cobras, Rio de Janeiro. Thiết kế được dựa trên bản vẽ lớp H do Anh cung cấp, nhưng với vũ khí và động cơ do Hoa Kỳ sản xuất. Cho dù được đặt lườn từ năm 1940, sáu chiếc thuộc lớp này chỉ hoàn tất vào năm 19491951.[6]

Hải quân Hoàng gia Hy Lạp[sửa | sửa mã nguồn]

Hai chiếc thuộc một phiên bản cải biến của lớp G đã được hãng Yarrow chế tạo cho Hải quân Hoàng gia Hy Lạp. Chúng được trang bị hải pháo 12,7 cm SK C/34pháo phòng không 37 mm do Đức chế tạo. Việc trang bị vũ khí được thực hiện tại Hy Lạp, vì phía Đức từ chối vận chuyển kiểu vũ khí này sang Anh.

  • Tàu khu trục Vasilefs Georgios, được đặt tên theo Vua George I, đã phục vụ cho Hải quân Hoàng gia Hy Lạp trong cuộc Chiến tranh Hy Lạp-Ý. Bị máy bay Đức gây hư hại, nó xoay sở đi đến được Xưởng hải quân Salamis và được đưa vào ụ tàu để sửa chữa, nhưng tiếp tục bị hư hại thêm do các cuộc không kích của Đức, nên cuối cùng bị đánh đắm để tránh bị chiếm giữ. Người Đức đã trục vớt nó, sửa chữa, và cho hoạt động cùng Hải quân Đức Quốc Xã như là chiếc Hermes (ZG3) vào ngày 21 tháng 3, 1942. Hermes bị hư hại nặng ngoài khơi mũi Bon vào ngày 30 tháng 4, 1943, và bị đánh đắm vào ngày 7 tháng 5, 1943.
  • Tàu khu trục Vasilissa Olga, được đặt tên theo Hoàng hậu Olga, cũng từng phục vụ trong cuộc Chiến tranh Hy Lạp-Ý. Nó cùng các tàu chiến khác đào thoát được đến Alexandria vào tháng 5, 1941 và gia nhập lực lượng Đồng Minh. Nó bị mất trong chiến tranh do không kích của máy bay Đức đang khi thả neo trong vịnh Lakki, Leros vào ngày 26 tháng 9, 1943.

Hai chiếc khác, Vasilefs KonstantinosVasilissa Sofia, được đặt tên theo Vua Constantine I và Hoàng hậu Sofia tương ứng, được dự định chế tạo ngay tại Hy Lạp, nhưng công việc bị ngừng lại do Thế Chiến II nổ ra.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ HMS Hesperus, Peter Dickens, 1972, Profile publications, p.180
  2. ^ HMS Hesperus, Peter Dickens, 1972, Profile publications, p.181
  3. ^ HMS Hesperus, Peter Dickens, 1972, Profile publications, p.187
  4. ^ Chronology of the War at Sea 1939-1945, J. Rohwer and G. Hummelchen, 1992, Naval Institute Press ISBN 1-55750-105-X
  5. ^ North Atlantic Run, Marc Milner, 1985, Naval Institute Press ISBN 0-87021-450-0
  6. ^ Friedman 2009, tr. 227

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Douglas, W. A. B.; Sarty, Roger; Michael Whitby, Robert H. Caldwell, William Johnston, William G. P. Rawling (2002). No Higher Purpose. The Official Operational History of the Royal Canadian Navy in the Second World War, 1939–1943. 2, pt. 1. St. Catharines, Ontario: Vanwell. ISBN 1-55125-061-6. 
  • English, John (1993). Amazon to Ivanhoe: British Standard Destroyers of the 1930s. Kendal, England: World Ship Society. ISBN 0-905617-64-9. 
  • Friedman, Norman (2009). British Destroyers From Earliest Days to the Second World War. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 978-1-59114-081-8. 
  • Lenton, H. T. (1998). British & Empire Warships of the Second World War. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-55750-048-7. 
  • Rohwer, Jürgen (2005). Chronology of the War at Sea 1939-1945: The Naval History of World War Two . Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-59114-119-2. 
  • Whitley, M. J. (1988). Destroyers of World War 2. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-326-1. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]