Town (lớp tàu tuần dương) (1936)
Tàu tuần dương HMS Belfast như một tàu bảo tàng tại London |
|
| Khái quát về lớp tàu | |
|---|---|
| Tên gọi: | Town |
| Xưởng đóng tàu: | Xưởng tàu Devonport, Plymouth Scotts, Greenock Vickers Armstrong John Brown & Company, Clydebank, Scotland Fairfield, Govan Hawthorn Leslie, Hebburn Harland and Wolff, Belfast, Bắc Ireland |
| Bên sử dụng: | |
| Lớp trước: | lớp Arethusa |
| Lớp sau: | lớp Dido |
| Lớp con: | Southampton Gloucester Edinburgh |
| Thời gian đóng: | 1934-1939 |
| Thời gian hoạt động: | 1937-1963 |
| Hoàn tất: | 10 |
| Bị mất: | 4 |
| Giữ lại: | 1 |
| Đặc điểm khái quát | |
| Kiểu: | Tàu tuần dương hạng nhẹ |
| Trọng tải choán nước: | Southampton: 9.100 tấn dài (9.200 t) (tiêu chuẩn) 11.350 tấn dài (11.530 t) (đầy tải) Gloucester: 9.400 tấn dài (9.600 t) (tiêu chuẩn) [1] 11.650 tấn dàis (11.840 t) (đầy tải) [2] Edinburgh: 11.553 tấn dài (11.738 t) (tiêu chuẩn) 13.175 tấn dàis (13.386 t) (đầy tải) |
| Độ dài: | Southampton: 558 ft (170 m) Gloucester: 588 ft (179 m) [3] Edinburgh: 613 ft 6 in (187,0 m) |
| Sườn ngang: | Southampton: 61 ft 8 in (18,8 m) Gloucester: 62 ft 4 in (19,0 m)[3] Edinburgh: 64,9 ft (19,8 m) |
| Mớn nước: | Southampton: 21 ft 6 in (6,6 m) Gloucester: 20 ft 7 in (6,3 m)[3] Edinburgh: 22,6 ft (6,9 m) |
| Động cơ đẩy: | 4 × turbine hơi nước Parsons 4 × nồi hơi Admiralty 4 × trục công suất: Southapmton: 75.000 shp (56.000 kW) Gloucester và Edinburgh: 82.500 shp (61.500 kW)[2] |
| Tốc độ: | Southapmton:32 kn (37 mph; 59 km/h) Gloucester và Edinburgh: 323 kn (598 km/h)[2] |
| Tầm xa: | 5.300 nmi (6.100 mi; 9.800 km) ở tốc độ 13 kn (15 mph; 24 km/h) |
| Tầm hoạt động: | 1.325 tấn dầu |
| Thủy thủ đoàn đầy đủ: |
Southapmton: 748 Gloucester và Edinburgh: 800[3] – 850[2] |
| Hệ thống cảm biến và xử lý: |
radar |
| Vũ trang: |
Southampton và Gloucester (như thiết kế): |
| Máy bay mang theo: | 2 × thủy phi cơ Supermarine Walrus (tháo dỡ giữa chiến tranh) |
| Thiết bị bay: | 1 × máy phóng |
Lớp tàu tuần dương Town là một lớp tàu tuần dương hạng nhẹ bao gồm 10 chiếc được Hải quân Hoàng gia Anh Quốc chế tạo trước Chiến tranh Thế giới thứ hai. Lớp tàu này được thiết kế nhằm tuân thủ những hạn chế đặt ra bởi Hiệp ước Hải quân London năm 1930; và được chế tạo với ba lớp phụ riêng biệt: Southampton, Gloucester và Edinburgh, mỗi lớp phụ lần lượt được tăng cường thêm vũ khí.
Những chiếc đã được sử dụng rộng rãi trong Thế Chiến II, lúc mà bốn chiếc đã bị đánh chìm. Một số trong những chiếc còn lại tiếp tục phục vụ trong Chiến tranh Triều Tiên. Cho đến năm 1967, tất cả đều bị tháo dỡ, ngoại trừ duy nhất HMS Belfast được giữ lại như một tàu bảo tàng thuộc Viện bảo tàng Chiến tranh Đế chế.
Mục lục |
Vũ khí trang bị [sửa]
Giống như các đối thủ Hoa Kỳ và Nhật Bản vào thời đó, lớp tàu tuần dương Town là những "tàu tuần dương hạng nhẹ" theo sát những điều khoản của Hiệp ước Hải quân London. Hiệp ước này định nghĩa một "tàu tuần dương hạng nhẹ" có dàn pháo chính mang cỡ nòng không lớn hơn 6,1 inch (155 mm); cả ba cường quốc hải quân đều tìm cách né tránh sự giới hạn số lượng tàu tuần dương hạng nặng bằng cách chế tạo "tàu tuần dương hạng nhẹ" tương đương về kích cỡ và hỏa lực. Chúng bù trừ lại cỡ nòng pháo nhỏ hơn bằng cách mang theo số lượng pháo nhiều hơn.
Tất cả các con tàu này đều trang bị hải pháo BL 6 inch Mk XXIII (152 mm) bố trí trên các tháp pháo ba nòng, các tháp pháo giữa được bố trí cách 30 in (76 cm) phía sau các pháp pháo ngoài bìa để ngăn ngừa ảnh hưởng lẫn nhau giữa các quả đạn pháo trong chiến đấu, và để các pháo thủ có thêm chỗ trống hoạt động.[4] Nóc tháp pháo được cắt ra phía trước cho phép các khẩu pháo có góc nâng rất cao, nguyên được dự định cho chúng đồng thời đám nhiệm vai trò phòng không, cho dù không mấy hiệu quả do tốc độ xoay không đủ nhanh và chỉ được nạp đạn bằng tay nên tốc độ bắn không cao. Bản mẫu:Clearleft
Các lớp phụ [sửa]
Lớp Southampton [sửa]
Lớp phụ Southampton gồm năm chiếc là lớp phụ đầu tiên, nên hai lớp phụ sau đó được gọi là các lớp Southampton biến đổi hay cải tiến. Chúng mang 12 khẩu pháo 152 mm (6 inch) bố trí trên bốn tháp pháo ba nòng, nguyên được chế tạo nhằm đối phó lại các lớp tàu tuần dương hạng nhẹ Brooklyn của Mỹ và Mogami của Nhật Bản.
Lớp Gloucester [sửa]
Lớp phụ Gloucester tiếp nối gồm ba chiếc có sàn tàu được thiết kế lại và lớp giáp cho các tháp pháo dày hơn.
Lớp Edinburgh [sửa]
Lớp phụ Edinburgh dài hơn: 614 ft (187 m) so với 592 ft (180 m) trước đó, thoạt tiên được dự định nhằm tăng cường dàn pháo chính lên 16 khẩu pháo 152 mm (6 inch) bố trí trên bốn tháp pháo bốn nòng. Ý tưởng này nhanh chóng bị hủy bỏ do những khó khăn trong việc chế tạo một kiểu tháp pháo bốn nòng có hiệu quả thực sự, nên nó quay lại thiết kế dàn pháo chính nguyên thủy, mặc dù được cải tiến. Thay vào đó, có thêm bốn khẩu 102 mm (4 inch) đa dụng và tám khẩu 2 pounder (40 mm) được bổ sung và vỏ giáp được tăng cường.
Những chiếc trong lớp [sửa]
Các cải tiến sau này [sửa]
Mọi chiếc trong lớp Town đều được cải biến đáng kể trong Chiến tranh Thế giới thứ hai và trong Chiến tranh Triều Tiên. Trong Thế Chiến II, Glasgow, Sheffield và Newcastle được tháo dỡ một tháp pháo phía đuôi, thay thế bằng hai khẩu đội pháo phòng không Bofors 40 mm bốn nòng, vì không có đủ chỗ trang bị hỏa lực phòng không bổ sung. Đây không phải là vấn đề đối với lớp phụ Edinburgh, vì chúng dài hơn nên có nhiều chỗ hơn. Chúng tiếp tục có những cải biến về vũ khí sau đó, bao gồm việc bổ sung pháo phòng không Bofors 40 mm. Việc bổ sung thiết bị radar trong giai đoạn Thế Chiến II đã giúp nâng cao hiệu quả tác chiến của các con tàu.
Lịch sử hoạt động [sửa]
Chiếc đầu tiên của lớp Town được hạ thủy năm 1936 và đưa ra hoạt động năm 1937, chỉ hai năm trước khi chiế tranh nổ ra. Lớp Town đã được sử dụng rộng rãi trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, từng tham gia nhiều chiến dịch quan trọng, như là việc đánh chìm thiết giáp hạm Đức Scharnhorst. Bốn chiếc đã bị đánh chìm trong chiến tranh: Edinburgh, Gloucester, Manchester và Southampton. Nhiều chiếc trong số những chiếc còn lại đã phục vụ trong Chiến tranh Triều Tiên, và chiếc cuối cùng trong lớp được cho ngừng hoạt động là Sheffield vào năm 1967. Một chiếc duy nhất của lớp Town được giữ lại Belfast, hiện đang neo đậu trên sông Thames tại London như một tàu bảo tàng của Viện bảo tàng Chiến tranh Đế chế, vai trò mà nó bắt đầu đảm nhiệm từ năm 1971.
Xem thêm [sửa]
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Town (lớp tàu tuần dương) (1936). |
Lớp tàu tuần dương Crown Colony
Tham khảo [sửa]
Chú thích [sửa]
Thư mục [sửa]
- Colledge, J. J.; Warlow, Ben (1969). Ships of the Royal Navy: the complete record of all fighting ships of the Royal Navy (Rev. ed.). London: Chatham. ISBN 978-1-86176-281-8. OCLC 67375475.
- Gardiner, Robert; Chesneau, Roger (1980). Conway's All the World's Fighting Ships, 1922–1946. Budzbon, Przemysław. London: Conway Maritime Press. ISBN 0-85177-146-7.
- Whitley, M. J. (2000). Cruisers of World War Two: An International Encyclopedia. London: Caxton Editions. ISBN 1-86019-874-0.
- Tony DiGiulian, Britain 6"/50 (15.2 cm) BL Mark XXIII
|
||||||||||||||
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||