Brooklyn (lớp tàu tuần dương)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Brooklyn CL-40.jpg
Tàu tuần dương USS Brooklyn (CL-40)
Khái quát về lớp tàu
Tên gọi: Lớp tàu tuần dương Brooklyn
Xưởng đóng tàu: Xưởng hải quân New York
Xưởng hải quân Philadelphia
New York Shipbuilding Association
Bên sử dụng: Hoa Kỳ Hải quân Hoa Kỳ
Argentina Hải quân Argentina
Brasil Hải quân Brazil
Chile Hải quân Chile
Lớp trước: Lớp Omaha
Lớp sau: Lớp St. Louis
Hoàn tất: 7
Bị mất: 1 (Hải quân Argentina)
Nghỉ hưu: 6
Đặc điểm khái quát
Kiểu: Tàu tuần dương hạng nhẹ
Trọng tải choán nước: 9.767 tấn Anh (9.924 t) (tiêu chuẩn)
12.207 tấn Anh (12.403 t) (đầy tải)[1]
Độ dài: 606 ft (185 m) (chung)
Sườn ngang: 62 ft (19 m)
Mớn nước: 23 ft (7,0 m)
Động cơ đẩy: 4 × turbine hơi nước hộp số Parsons
8 × nồi hơi Babcock & Wilcox
4 × trục
công suất 100.000 shp (75.000 kW)
Tốc độ: 32,5 hải lý một giờ (60,2 km/h; 37,4 mph)
Tầm xa: 10.000 nmi (18.520 km; 11.510 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
868
Vũ trang:

15 × pháo 203 mm (6 inch) Mark 16 (5×3)
8 × pháo 127 mm (5 inch)/25 caliber đa dụng (8×1)

8 × súng máy M2 Browning .50 caliber (8×1)
Bọc giáp: đai giáp chính: 140 mm (5,5 inch);
sàn tàu: 50 mm (2 inch);
tháp pháo: 50-170 mm (2-6,5 inch);
bệ tháp pháo: 152 mm (6 inch);
tháp chỉ huy: 127 mm (5 inch)
Máy bay mang theo: 4 × thủy phi cơ
Thiết bị bay: 2 × máy phóng

Lớp tàu tuần dương Brooklyn bao gồm bảy chiếc tàu tuần dương hạng nhẹ của Hải quân Hoa Kỳ đã phục vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Được trang bị năm tháp pháo 6 inch ba nòng gồm ba phía trước và hai phía sau, chúng cùng với lớp tàu tuần dương St. Louis mang một hỏa lực pháo mạnh hơn mọi tàu tuần dương Hoa Kỳ nào khác. Những chiếc trong lớp Brooklyn được đưa ra hoạt động trong những năm 1937-1938, vào lúc mà cuộc Chiến tranh Trung-Nhật đang diễn ra nhưng chiến tranh tại Châu Âu vẫn chưa bắt đầu. Chúng đã được sử dụng rộng rãi tại cả Thái Bình DươngĐại Tây Dương trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Mặc dù một số bị hư hại nặng, chúng đều sống sót qua cuộc chiến này. Tất cả đều được cho ngừng hoạt động sau khi chiến tranh kết thúc, và đến năm 1951, năm chiếc trong số chúng được chuyển cho hải quân các nước Nam Mỹ, nơi chúng phục vụ thêm nhiều năm nữa. Trong số chúng, General Belgrano của Argentina, nguyên là chiếc USS Phoenix, bị đánh chìm trong cuộc Chiến tranh Falklands vào những năm 1980.

Lớp Brooklyn đã có một ảnh hưởng lớn đối với việc thiết kế tàu tuần dương của Hoa Kỳ. Hầu như mọi tàu tuần dương hạng nặng và hạng nhẹ tiếp theo sau của Hải quân Hoa Kỳ đều trực tiếp hay gián tiếp dựa trên thiết kế của nó.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Thiết kế của lớp Brooklyn xuất phát từ Hiệp ước Hải quân London năm 1930, vốn giới hạn việc chế tạo tàu tuần dương hạng nặng, là những tàu chiến mang cỡ nòng pháo giữa 6,1 cho đến 8 inch. Hoa Kỳ không ưa chuộng quyết định này, với quan điểm rằng các tàu chiến với cỡ pháo lớn phù hợp cho những nhu cầu tại Thái Bình Dương. Việc thiết kế được bắt đầu vào năm 1930, với bốn chiếc đầu trong lớp được đặt hàng vào năm 1933 và bổ sung thêm ba chiếc nữa vào năm 1934. Các tiêu chí căn bản về tốc độ và tầm xa hoạt động cần theo kịp các tàu tuần dương hạng nặng, khi lớp tàu tuần dương Mogami của Nhật Bản trang bị mười lăm pháo 6 inch xuất hiện, những tàu chiến mới của Mỹ phải theo kịp về vũ khí. Các cách kết hợp khác nhau giữa vỏ giáp và động cơ đã được thử trong những nỗ lực nhằm giữ chúng trong phạm vi giới hạn trọng lượng choán nước tiêu chuẩn 10.000 tấn của Hiệp ước.

Các khẩu pháo 6 inch Mark 16 thuộc về một thiết kế mới, có khả năng bắn quả đạn pháo nặng 59 kg (130 lb) đi xa đến 23.900 m (26.100 yard). Dự định trang bị pháo phòng không 1,1 inch đã không thể thực hiện, và yêu cầu chỉ có thể đáp ứng trọn vẹn vào năm 1943; các giải pháp trung gian đã được chấp thuận.

Từ năm 1942, cấu trúc cầu tàu được hạ thấp và thiết bị radar được bổ sung. Việc bổ sung vũ khí phòng không được đặt ra với bốn khẩu đội 40 mm bốn nòng và bốn khẩu đội 40 mm nòng đôi, nhưng không thể đáp ứng. Trong thực tế chúng được trang bị các kiểu phối hợp pháo Oerlikon 20 mmBofors 40 mm khác nhau, trong đó 28 khẩu 40 mm (44, 62) và 20 khẩu 20 mm (102) là cấu hình thông dụng nhất.

Hai chiếc thuộc lớp tàu tuần dương hạng nhẹ St. Louis là những thiết kế cải tiến của lớp Brooklyn, có thiết kế mới về nồi hơi, vỏ giáp, và dàn pháo hạng hai dựa trên bốn tháp pháo nòng đôi; trong khi Wichita là một phiên bản tàu tuần dương hạng nặng (được Hiệp ước London cho phép). Hai lớp tàu tuần dương thời chiến tranh BaltimoreCleveland đều dựa trên lớp Wichita và lớp St. Louis tương ứng, và do đó hầu hết tàu tuần dương được Mỹ chế tạo trong Thế Chiến II đều xuất phát từ thiết kế của lớp Brooklyn.[2]

Lịch sử phục vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Cho dù nhiều chiếc đã bị hư hại trong chiến tranh, tất cả đã sống sót qua cuộc chiến, nhưng đều bị cho ngừng hoạt động tính cho đến ngày 3 tháng 2 năm 1947. USS Nashville (CL-43) bị đánh trúng trong một cuộc tấn công cảm tử kamikaze vào ngày 13 tháng 12 năm 1944 ngoài khơi Mindoro, khiến làm thiệt mạng hoặc bị thương 310 thành viên thủy thủ đoàn. USS Honolulu (CL-48) bị trúng ngư lôi trong trận Kolombangara; sau khi được sửa chữa tại Hoa Kỳ, Honolulu quay trở lại phục vụ rồi lại bị trúng ngư lôi phóng từ máy bay Nhật vào ngày 20 tháng 10 năm 1944 trong Trận Leyte. USS Boise (CL-47) bị hư hại nặng bởi một quả đạn pháo bắn trúng hầm đạn tháp pháo phía trước của nó trong Trận chiến mũi Esperance ngày 11 tháng 10 năm 1942, chịu đựng nhiều thương vong nhưng may mắn là hầm đạn pháo đã không phát nổ. Cuối cùng, ngoài khơi Salerno, Ý, USS Savannah (CL-42) bị một quả bom lượn Fritz X điều khiển bằng vô tuyến của Đức đánh trúng, vốn đã xuyên thủng tháp pháo số 3 và phát nổ bên dưới đáy tàu. Thao tác kiểm soát hư hỏng thuần thục của thủy thủ đoàn đã cứu con tàu khỏi bị đánh đắm. Trong khi được sửa chữa tại Hoa Kỳ, Savannah được tái cấu trúc, được bổ sung một bầu trên lườn tàu, làm tăng độ rộng mạn thuyền thêm gần 2,4 m (8 ft) và dàn pháo phòng không 127 mm (5 inch) gồm bốn khẩu nòng đôi.

Sau chiến tranh[sửa | sửa mã nguồn]

Hai chiếc trong lớp đã bị tháo dỡ, số còn lại sau đó được bán cho các nước Nam Mỹ: BrooklynNashville cho Chile, Philadelphia cho Brasil, và Boise cùng Phoenix cho Argentina. Phoenix được đổi tên thành ARA General Belgrano và đã bị đánh chìm do trúng ngư lôi phóng bởi HMS Conqueror trong cuộc Chiến tranh Falklands.

Những chiếc trong lớp[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu Đặt lườn Hạ thủy Hoạt động Số phận
Brooklyn (CL-40) 12 tháng 3 năm 1935 30 tháng 11 năm 1936 30 tháng 9 năm 1937 Ngừng hoạt động năm 1947, bán cho Chile năm 1951, đổi tên thành O'Higgins; ngừng hoạt động và bị chìm năm 1992
Philadelphia (CL-41) 28 tháng 5 năm 1935 17 tháng 11 năm 1936 23 tháng 9 năm 1937 Ngừng hoạt động năm 1947; bán cho Brasil năm 1951, đổi tên thành Barroso (C–11); tháo dỡ năm 1973
Savannah (CL-42) 31 tháng 5 năm 1934 8 tháng 5 năm 1937 10 tháng 3 năm 1938 Ngừng hoạt động năm 1947; bị tháo dỡ năm 1966
Nashville (CL-43) 24 tháng 1 năm 1935 2 tháng 10 năm 1937 6 tháng 6 năm 1938 Ngừng hoạt động năm 1946, bán cho Chile năm 1951, đổi tên thành Capitán ; tháo dỡ năm 1985
Phoenix (CL-46) 15 tháng 4 năm 1935 13 tháng 3 năm 1938 3 tháng 10 năm 1938 Ngừng hoạt động năm 1946; bán cho Argentina năm 1951, đổi tên thành ARA General Belgrano; bị tàu ngầm Anh Quốc Conqueror đánh chìm năm 1982 trong cuộc Chiến tranh Falklands
Boise (CL-47) 1 tháng 4 năm 1935 3 tháng 12 năm 1936 12 tháng 8 năm 1938 Ngừng hoạt động năm 1946; bán cho Argentina năm 1951, đổi tên thành ARA Nueve de Julio; tháo dỡ năm 1978
Honolulu (CL-48) 10 tháng 9 năm 1935 26 tháng 8 năm 1937 15 tháng 6 năm 1938 Ngừng hoạt động 3 tháng 2 năm 1947, tháo dỡ năm 1949


Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Whitley, M J (1995). Cruisers of World War Two: An International Encyclopedia. London: Arms and Armour Press. tr. 248. ISBN 1-85409-225-1. 
  2. ^ Whitley, M J (1995). Cruisers of World War Two: An International Encyclopedia. London: Arms and Armour Press. tr. 248–249. ISBN 1-85409-225-1. 
  • Fahey, James C (1941). The Ships and Aircraft of the U.S. Fleet, Two-Ocean Fleet Edition. Ships and Aircraft.