Avenger (lớp tàu sân bay hộ tống)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Charger CVE-30.jpg
T̀au sân bay hộ tống USS Charger (CVE-30)
Khái quát về lớp tàu
Tên gọi: Avenger
Xưởng đóng tàu: Sun Shipbuilding & Drydock Co.
Bên sử dụng: Hoa Kỳ Hải quân Hoa Kỳ
Naval Ensign of the United Kingdom.svg Hải quân Hoàng gia Anh
Civil and Naval Ensign of France.svg Hải quân Pháp
Lớp trước: lớp Sangamon
Lớp sau: lớp Casablanca
Dự tính: 4
Hoàn tất: 4
Bị mất: 2
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: lớp tàu sân bay hộ tống Avenger
Kiểu: Tàu sân bay hộ tống
Trọng tải choán nước: 15.120 tấn Anh (15.360 t) (đầy tải)
Độ dài: 465 ft (142 m)
Sườn ngang: 69,5 ft (21,2 m)
Mớn nước: 25 ft (7,6 m)
Động cơ đẩy: 1 × động cơ diesel Doxford 6 xy-lanh
1 × trục
công suất 8.500 mã lực (6,3 MW)
Tốc độ: 31 km/h (16,5 knot)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
555
Vũ trang: 3 × pháo 102 mm (4 inch)
19 × pháo phòng không Oerlikons 20 mm
Máy bay mang theo: 15 – 30 × máy bay
Thiết bị bay: sàn đáp 150 m (490 ft) × 24 m (78 ft)

Lớp tàu sân bay hộ tống Avenger, còn được gọi là lớp tàu sân bay hộ tống Charger theo tên chiếc duy nhất của Hải quân Mỹ, bao gồm bốn chiếc tàu buôn thương mại lớp C3 được cải biến thành tàu sân bay hộ tống để hoạt động cùng Hải quân Hoa KỳHải quân Hoàng gia Anh Quốc trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Bốn chiếc tàu chở hàng Rio Hudson, Rio Parana, Rio de la PlataRio de Janeiro đã được cải biến trước khi hoàn tất tại các xưởng đóng tàu Hoa Kỳ. Chúng có thiết kế tương tự như lớp tàu sân bay hộ tống Archer vốn được cải biến từ những tàu chở hàng đã hoàn tất. Vũ khí trang bị bao gồm hai khẩu pháo 102 mm (4 inch) trên các bệ nòng đơn trước mũi và một khẩu sau đuôi; cùng với 19 pháo Oerlikons 20 mm cho vai trò phòng không. Pháo 102 mm (4 inch) của Hoa Kỳ được thay thế bằng pháo 102 mm (4 inch) do Anh Quốc chế tạo sau khi chuyển giao.

Cả bốn chiếc đều được chuyển giao cho Hải quân Hoàng gia, nhưng một chiếc, HMS Charger, được hoàn trả không lâu sau khi chuyển giao và được đưa vào hoạt động cùng Hải quân Hoa Kỳ. Hai chiếc đã bị mất trong chiến tranh, số còn lại được hoàn trả sau khi chiến tranh kết thúc.

Những chiếc trong lớp[1][sửa | sửa mã nguồn]

Tàu Đặt lườn Hạ thủy Hoạt động Số phận
Avenger (D14) (Rio Hudson) 27 tháng 11 năm 1940 2 tháng 3 năm 1942 Bị tàu ngầm Đức U-155 đánh chìm ngoài khơi Gibraltar, 15 tháng 11 năm 1942
Biter (D97) (Rio Parana) 28 tháng 12 năm 1939 18 tháng 12 năm 1940 1 tháng 5 năm 1942 Hoàn trả cho Hoa Kỳ và chuyển cho Hải quân Pháp dưới tên gọi Dixmude 1945. Hoàn trả cho Hoa Kỳ và đánh chìm như một mục tiêu 1966
Charger (D27) (Rio de la Plata) 19 tháng 1 năm 1940 1 tháng 3 năm 1941 3 tháng 3 năm 1942 như là USS Charger Bán để hoạt động tư nhân dưới tên gọi MV Fairsea 1947, bán để tháo dỡ tại Ý 1969
Dasher (D37) (Rio de Janeiro) 14 tháng 3 năm 1940 12 tháng 4 năm 1941 1 tháng 7 năm 1942 Chìm sau một vụ nổ bên trong 27 tháng 3 năm 1943

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Avenger class escort carrier tại Wikimedia Commons

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Conway's, trang 25

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Colledge, J. J.; Warlow, Ben (1969). Ships of the Royal Navy: the complete record of all fighting ships of the Royal Navy (Rev. ed.). London: Chatham. ISBN 978-1-86176-281-8. OCLC 67375475.
  • Gardiner, Robert; Chesneau, Roger (1980). Conway's All the world's fighting ships, 1922–1946. Conway. ISBN 0851771467. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]