Renown (lớp tàu chiến-tuần dương)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Renown-6.jpg
Tàu chiến-tuần dương HMS Renown (1916)
Khái quát về lớp tàu
Tên gọi: Lớp tàu chiến-tuần dương Renown
Xưởng đóng tàu: Fairfield Shipping and Engineering
John Brown and Company
Bên sử dụng: Naval Ensign of the United Kingdom.svg Hải quân Hoàng gia Anh
Lớp trước: Tiger
Lớp sau: Admiral
Thời gian đóng: 1915 - 1916
Dự tính: 3
Hoàn tất: 2
Bị mất: 1
Đặc điểm khái quát
Kiểu: Tàu chiến-tuần dương
Trọng tải choán nước: 26.500 tấn (thiết kế);
30.100 tấn (tối đa)
Độ dài: 242 m (794 ft 2 in)
Sườn ngang: 27,4 m (90 ft)
Mớn nước: 8,94 m (29 ft 8 in)
Động cơ đẩy: 4 × Turbine hơi nước Brown-Curtis
42 × nồi hơi Babcock & Wilcox
4 × trục
công suất 120.000 mã lực (89,5 MW)
Tốc độ: 56 km/h (30,25 knot) (hoạt động)
58,7 km/h (31,7 knot) (Repulse chạy thử)
60,5 km/h (32,68 knot) (Renown chạy thử)
Vũ trang: 6 × pháo BL 380 mm (15 inch) Mk I (3×2)
9 × pháo BL 102 mm (4 inch) Mk IX góc thấp (3×3)
8 × pháo phòng không QF 102 mm (4 inch) Mk V (2×2, 4×1)
24 × pháo phòng không QF 2 pounder pom-pom (3×8)
8 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm (8×1)
8 × ống phóng ngư lôi 533 mm (21 inch) Mk II
Bọc giáp: Đai giáp: 51-229 mm (2-9 inch).
Sàn tàu chính: 102 mm (4 inch) trên hầm đạm;
25-63 mm (1-2,5 inch) trên phòng nồi hơi;
76 mm (3 inch) trên phòng động cơ;
95-102 mm (3,75–4 inch) phía hông.
Sàn tàu dưới: 95-102 mm (3,75–4 inch) trên hầm đạn.
Cửa gió nồi hơi: 51 mm (2 inch) dọc
Máy bay mang theo: 4 × Blackburn Shark,
thay bằng Fairey Swordfish (1939)
Thiết bị bay: 1 × máy phóng hai đầu

Renown là một lớp bao gồm hai tàu chiến-tuần dương của Hải quân Hoàng gia Anh Quốc được chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất. Nguyên là những thiết giáp hạm cuối cùng của lớp Revenge bị tạm ngưng do chiến tranh, thiết kế của chúng được thay đổi để hoàn tất như những tàu chiến-tuần dương. Là những tàu chiến lớn nhất thế giới vào lúc đưa vào hoạt động, chúng đã phục vụ trong cả Chiến tranh Thế giới thứ nhất lẫn thứ hai, khi Repulse bị đánh chìm ngoài khơi Malaya ngày 10 tháng 12 năm 1941, còn Renown sống sót qua cuộc chiến tranh và bị tháo dỡ vào năm 1948.

Bối cảnh và thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Cả hai chiếc trong lớp Renown ban đầu được chế tạo như những thiết giáp hạm cuối cùng của lớp Revenge. Việc chế tạo bị tạm ngưng sau khi Chiến tranh Thế giới thứ nhất nổ ra, do những dự đoán ban đầu về một cuộc chiến tranh ngắn ngủi khiến người ta cho rằng chúng sẽ không có mặt kịp thời. Thứ trưởng thứ nhất Hải quân Anh, Đô đốc Jackie Fisher, đã sử dụng ảnh hưởng cá nhân của ông để tái khởi động việc chế tạo RenownRepulse theo một thiết kế mới như những tàu chiến-tuần dương, có thể chế tạo và đưa vào sử dụng nhanh chóng.

Lớp Revenge nguyên được thiết kế bởi Eustace Tennyson-D'Eyncourt, Giám đốc Chế tạo Hải quân, và lớp Renown được đóng bằng cách kéo dài thân tàu, giảm số lượng tháp pháo từ bốn xuống còn ba, và có một lớp vỏ giáp mỏng hơn. Kết quả là thời gian đóng tàu được rút ngắn và chúng được đưa ra hoạt động không lâu sau trận Jutland năm 1916.

Chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Hai chiếc được hoàn tất là HMS RenownHMS Repulse, trong khi kế hoạch về một chiếc thứ ba sẽ được đặt tên là HMS Resistance bị hủy bỏ trước khi bắt đầu chế tạo. Chi phí chế tạo Renown là 3.111.284 Bảng Anh, và của Repulse là 2.760.062 Bảng Anh;[1][2] con số này theo thông lệ đóng tàu của Anh Quốc thời đó không bao gồm chi phí cho trang bị vũ khí và dự trữ. Chúng trở thành những tàu chiến chủ lực lớn nhất thế giới vào lúc hoàn tất, cho đến khi chiếc HMS Hood được đưa vào hoạt động. Tuy nhiên, việc thường xuyên phải tái trang bị và nâng cấp đã khiến cho chúng mang những cái tên lóng châm biếm là "HMS Refit" (tái trang bị) và "HMS Repair" (sửa chữa).

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Cả hai chiếc trong lớp Renown đều đã phục vụ trong cả Chiến tranh Thế giới thứ nhất lẫn thứ hai, khi Repulse bị máy bay Nhật Bản đánh chìm trong biển Nam Trung Quốc ngoài khơi Kuantan, Pahang ngày 10 tháng 12 năm 1941, còn Renown sống sót qua cuộc chiến tranh và bị tháp dỡ vào năm 1948.

Những chiếc trong lớp[sửa | sửa mã nguồn]

HMS Repulse như nó hiện hữu vào năm 1919
HMS Renown sau khi tái cấu trúc vào năm 1939
Tàu Đặt lườn Hạ thủy Hoạt động Số phận
Renown 25 tháng 1 năm 1915 4 tháng 3 năm 1916 20 tháng 9 năm 1916 Bị bán để tháo dỡ vào tháng 3 năm 1948
Repulse 25 tháng 1 năm 1915 8 tháng 1 năm 1916 18 tháng 8 năm 1916 Bị đánh chìm ngoài khơi Malaya ngày 10 tháng 12 năm 1941


Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Brassey's Naval and Shipping Annual 1924, trang 422-424.
  2. ^ Parkes, Oscar, British Battleships, trang 608-617.
  • Gardiner, Robert and Gray, Randal (ed) Conway's All the World's Fighting Ships 1906 - 1921, Conway Maritime Press, London, 1982. ISBN 0-85177-245-5.
  • Parkes, Oscar British Battleships, first published Seeley Service & Co, 1957, published United States Naval Institute Press, 1990. ISBN 1-55750-075-4
  • Richardson, Sir Alexander and Hurd, Archibald (ed) Brassey's Naval and Shipping Annual 1924

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Renown (lớp tàu chiến-tuần dương) tại Wikimedia Commons