Sangamon (lớp tàu sân bay hộ tống)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Santee
Tàu sân bay hộ tống USS Santee
Khái quát về lớp tàu
Xưởng đóng tàu: Federal Shipbuilding and Drydock Company
Sun Shipbuilding & Drydock Co.
Bên sử dụng:  Hoa Kỳ
Lớp trước: Bogue
Lớp sau: Avenger
Thời gian đóng: 1942
Thời gian hoạt động: 1942 - 1959
Hoàn tất: 4
Nghỉ hưu: 4
Đặc điểm khái quát
Kiểu: Tàu sân bay hộ tống
Trọng tải choán nước: 11.400 tấn Anh (11.583 t) (tiêu chuẩn)
24.275 tấn Anh (24.665 t) (đầy tải)
Độ dài: 553 ft (169 m)
Sườn ngang: 75 ft (23 m) (mực nước)
114 ft (35 m) (tối đa)
Mớn nước: 32 ft (9,8 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước
4 × nồi hơi
2 × trục
công suất 13.500 shp (10.067 kW)
Tốc độ: 18 hải lý một giờ (33 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
860-1080 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 2 × hải pháo 127 mm (5 inch)/51 caliber (2×1)[1]
8 × pháo phòng không Bofors 40 mm (4×2)
12 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm (12×1)
(bổ sung thêm pháo 20 & 40 mm sau đó)
Máy bay mang theo: 25-32 × F4F Wildcat, TBF Avenger hoặc SBD Dauntless

Lớp tàu sân bay hộ tống Sangamon là một nhóm bốn tàu sân bay hộ tống của Hải quân Hoa Kỳ từng phục vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Nguyên là những tàu chở dầu thuộc lớp Cimarron, được hạ thủy vào năm 1939 để sử dụng cho các mục đích dân sự, chúng được Hải quân Mỹ trưng dụng vào năm 1940 -1941 như những tàu chở dầu tiếp tế hạm đội, và vào đầu năm 1942 được cho ngừng hoạt động để cải biến thành các tàu sân bay hộ tống. Công việc cải biến mất khoảng sáu tháng, và từ cuối năm 1942 cho đến khi chiến tranh kết thúc, chúng đã tham gia hoạt động tại các chiến trường Địa Trung Hải, Đại Tây DươngThái Bình Dương. Ba chiếc trong lớp đã từng bị hư hại bởi máy bay tấn công cảm tử kamikaze Nhật Bản trong Trận chiến vịnh Leyte, nhưng tất cả đều sống sót qua cuộc chiến tranh. Chúng là những chiếc tàu xuất sắc của kiểu tàu chiến này, rộng rãi và chắc chắn với một sàn đáp lớn và có tầm nhìn bao quát, có độ ổn định tốt ngay cả khi biển động.

Những chiếc trong lớp được rút khỏi hoạt động không lâu sau khi chiến tranh kết thúc. Một số được giữ lại trong lực lượng dự bị và được xếp lại lớp thành những tàu sân bay trực thăng hộ tống (CVHE). Tất cả đều bị bán hoặc tháo dỡ vào đầu những năm 1960.

Những chiếc trong lớp[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu Đặt lườn Hạ thủy Hoạt động Số phận
Sangamon (CVE-26) 13 tháng 3 năm 1939 4 tháng 11 năm 1939 23 tháng 10 năm 1940 Bị bán để tháo dỡ 11 tháng 2 năm 1948
Suwannee (CVE-27) 3 tháng 6 năm 1938 4 tháng 3 năm 1939 16 tháng 7 năm 1941 Bị bán để tháo dỡ 30 tháng 11 năm 1959
Chenango (CVE-28) 10 tháng 7 năm 1938 1 tháng 4 năm 1939 20 tháng 6 năm 1941 Bị bán để tháo dỡ 12 tháng 2 năm 1960
Santee (CVE-29) 31 tháng 5 năm 1938 4 tháng 3 năm 1939 30 tháng 10 năm 1940 Bị bán để tháo dỡ 5 tháng 12 năm 1959


Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Friedman 1983, trang 407
  • Friedman, Norman (1983). U.S. Aircraft Carriers. Naval Institute Press. ISBN 0-87021-739-9.