Portland (lớp tàu tuần dương)
Tàu tuần dương USS Portland (CA-33) tại Trân Châu Cảng, ngày 14 tháng 7 năm 1944 |
|
| Khái quát về lớp tàu | |
|---|---|
| Tên gọi: | Lớp tàu tuần dương Portland |
| Xưởng đóng tàu: | Fore River New York Shipbuilding |
| Bên sử dụng: | |
| Lớp trước: | Northampton |
| Lớp sau: | New Orleans |
| Thời gian đóng: | 1930 - 1933 |
| Hoàn tất: | 2 |
| Bị mất: | 1 |
| Nghỉ hưu: | 1 |
| Đặc điểm khái quát | |
| Kiểu: | Tàu tuần dương hạng nặng |
| Trọng tải choán nước: | 9.950 tấn |
| Độ dài: | 177,4 m (582 ft) mực nước 186 m (610 ft 3 in) chung |
| Sườn ngang: | 20,1 m (66 ft 1 in) |
| Mớn nước: | 5,2 m (17 ft 1 in) |
| Động cơ đẩy: | 4 × Turbine hơi nước Parsons 8 × nồi hơi (Portland: nồi hơi Yarrow; Indianapolis: nồi hơi White-Foster) 4 × trục công suất 107.000 mã lực (79,8 MW) |
| Tốc độ: | 61 km/h (32,7 knot) |
| Tầm xa: | 18.000 km ở tốc độ 28 km/h (10.000 hải lý ở tốc độ 15 knot) |
| Thủy thủ đoàn: | 876 |
| Vũ trang: | 9 × pháo 203 mm (8 inch)/55 caliber 8 × pháo 127 mm (5 inch)/25 caliber[1] 8 × súng máy M2 Browning 0,50 caliber |
| Máy bay mang theo: | 2 - 4 × thủy phi cơ OS2U Kingfisher |
| Thiết bị bay: | 1 × máy phóng |
Portland là một lớp tàu tuần dương hạng nặng của Hải quân Hoa Kỳ được chế tạo vào đầu những năm 1930, bao gồm hai chiếc: Portland (CA-33) và Indianapolis (CA-35).
Mục lục |
Thiết kế[sửa]
Nguyên được đặt hàng như những chiếc thuộc lớp Northampton vào đầu những năm 1930, những tàu tuần dương này có cùng cách sắp xếp ba tháp pháo ba nòng cho dàn pháo chính 203 mm (8 inch), nhưng được trang bị gấp đôi số lượng pháo hạng hai 127 mm (5 inch) gồm 8 tám khẩu thay vì 4, và có trọng lượng rẽ nước nặng hơn đôi chút. Chúng được thiết kế lại do kết quả của việc lớp Northampton dẫn trước còn nhẹ hơn gần 1.000 tấn dưới giới hạn cho phép của các hiệp ước hải quân. Vì được chế tạo trong các xưởng đóng tàu thương mại, chúng đã không thể thiết kế lại theo quy mô của lớp New Orleans tiếp theo. Thay vào đó, chúng có đai giáp tương đối dày hơn và một dàn hỏa lực hạng hai mạnh hơn, cho dù chúng loại bỏ các ống phóng ngư lôi và mũi tàu dạng bầu.
Lịch sử hoạt động[sửa]
Indianapolis bị mất vào năm 1945 bởi ngư lôi của tàu ngầm đối phương, tổn thất tàu chiến lớn cuối cùng của Mỹ bởi hoạt động thù địch của đối phương trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Portland được cho ngừng hoạt động không lâu sau khi chiến tranh kết thúc, và bị bán để tháo dỡ vào năm 1959.
Những chiếc trong lớp[sửa]
| Tàu | Đặt lườn | Hạ thủy | Hoạt động | Số phận |
| Portland (CA-33) | 17 tháng 2 năm 1930 | 21 tháng 5 năm 1932 | 23 tháng 2 năm 1933 | Ngừng hoạt động 12 tháng 7 năm 1946; bán để tháo dỡ 6 tháng 10 năm 1959 |
| Indianapolis (CA-35) | 31 tháng 3 năm 1930 | 7 tháng 11 năm 1931 | 15 tháng 11 năm 1932 | Bị tàu ngầm Nhật I-58 đánh chìm ngày 30 tháng 7 năm 1945 |
Tham khảo[sửa]
- ^ Fahey 1941 trang 9.
Liên kết ngoài[sửa]
|
|||||||||||
|
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Portland (lớp tàu tuần dương) |