Northampton (lớp tàu tuần dương)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Northampton (CA-26).jpg
Tàu tuần dương USS Northampton (CA-26)
Khái quát về lớp tàu
Tên gọi: Lớp tàu tuần dương hạng nặng Northampton
Xưởng đóng tàu: Bethlehem Steel
New York Shipbuilding Company
Xưởng hải quân Puget Sound
Xưởng hải quân Mare Island
Newport News Shipbuilding
Bên sử dụng: Hoa Kỳ Hải quân Hoa Kỳ
Lớp trước: Pensacola
Lớp sau: Portland (hạng nặng)
Brooklyn (hạng nhẹ)
Thời gian đóng: 1928-1931
Hoàn tất: 6
Bị mất: 3
Nghỉ hưu: 3
Đặc điểm khái quát
Kiểu: Tàu tuần dương hạng nặng
Trọng tải choán nước: 9.050 tấn (tiêu chuẩn)
Độ dài: 182,9 m (600 ft 3 in)
Sườn ngang: 20,1 m (66 ft 1 in)
Mớn nước: 5,0 m (16 ft 4 in)
Động cơ đẩy: 4 × Turbine hơi nước Parsons
8 × nồi hơi White-Forster
4 × trục
công suất 107.000 mã lực (79,8 MW)
Tốc độ: 60 km/h (32,5 knot)
Tầm xa: 24.000 km ở tốc độ 28 km/h
(13.000 hải lý ở tốc độ 15 knot)
Tầm hoạt động: Dầu đốt: 1.500 tấn
Thủy thủ đoàn: 621
Hệ thống cảm biến
và xử lý:
Radar RCA CXAM (ngoại trừ Houston)[1]
Vũ trang: 9 × pháo 203 mm (8 inch)/55 caliber Mark 10/11 (3×3)
4 đến 8 × pháo 127 mm (5 inch)/25 caliber Mark 10[2]
6 đến 9 × ống phóng ngư lôi 533 mm
24 × pháo phòng không Bofors 40 mm (4×4)
28 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm
Bọc giáp: đai giáp: 76 mm (3 inch) trên động cơ;
95 mm (3,75 inch) trên hầm đạn
sàn tàu: 25 mm (1 inch) trên động cơ;
50 mm (2 inch) trên hầm đạn
tháp pháo: mặt trước 63 mm (2,5 inch); nóc 50 mm (2 inch); hông và phía sau 19 mm (0,75 inch)
tháp súng nhỏ: 38 mm (1,5 inch)
Máy bay mang theo: 2 – 4 × thủy phi cơ

Lớp tàu tuần dương Northampton là một nhóm sáu tàu tuần dương hạng nặng được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo trong những năm 1930. Mang nhiều đặc tính cải tiến so với lớp Pensacola dẫn trước, chúng đã được sử dụng rộng rãi trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, khi ba chiếc bị mất trong chiến đấu. Những chiếc còn lại bị tháo dỡ sau khi chiến tranh kết thúc.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Thiết kế của lớp tàu này chịu ảnh hưởng nặng nề bởi Hiệp ước Hải quân Washington, vốn hạn chế trọng lượng rẽ nước tối đa của tàu tuần dương ở mức 10.000 tấn và cỡ nòng pháo của dàn pháo chính không vượt quá 203 mm (8 inch). Lớp Northampton là nhằm đáp ứng lại những khuyết điểm về trọng lượng và chi phí của lớp tàu tuần dương hạng nặng dẫn trước Pensacola, và khác biệt so với đàn anh về nhiều khía cạnh. Lớp Pensacola có dàn pháo chính gồm 10 khẩu 203 mm (8 inch) trên bốn tháp súng, một tháp hai nòng và một tháp ba nòng bắn cao ở cả phía trước và phía sau. Ngược lại, lớp Northampton mang chín khẩu 203 mm (8 inch) trên ba tháp pháo ba nòng, hai phía trước và một phía sau, một cách sắp xếp tối ưu được tiếp nối bởi mọi tàu tuần dương hạng nặng Hoa Kỳ sau này.

Mặc dù vỏ giáp được tăng cường, lớp Northampton cuối cùng lại nhẹ hơn lớp Pensacola, với gần 1.000 tấn bên dưới giới hạn trọng lượng rẽ nước quy định bởi Hiệp ước. Chỗ trống trên tàu cũng gia tăng đối với lớp Northampton bằng cách sử dụng một tháp chỉ huy phía trước cao, vốn được kéo dài ra phía sau trên ba chiếc sau cùng để hoạt động như những soái hạm. Những chiếc này cũng là những tàu chiến đầu tiên của Hải quân Mỹ có một hầm chứa cho máy bay, và giường ngủ thay vì võng. Trọng lượng nhẹ hơn dự kiến cũng mang lại khuyết điểm chòng chành đáng kể buộc phải cải tiến sau đó. Lớp tàu tuần dương tiếp nối Portland về bản chất là lớp Northampton được cải tiến.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Lớp Northampton đã được sử dụng rộng rãi trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Ba chiếc Northampton, ChicagoHouston bị mất trong cuộc chiến này. Ba chiếc còn lại được cho ngừng hoạt động không lâu sau khi chiến tranh kết thúc, và bị tháo dỡ vào những năm 1959- 1961.

Những chiếc trong lớp[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu Đặt lườn Hạ thủy Hoạt động Số phận
Northampton (CA-26) 12 tháng 4 năm 1928 5 tháng 9 năm 1929 17 tháng 5 năm 1930 Bị đánh chìm trong trận Tassafaronga ngày 30 tháng 11 năm 1942
Chester (CA-27) 3 tháng 7 năm 1929 24 tháng 6 năm 1930 Ngừng hoạt động 10 tháng 6 năm 1946; tháo dỡ năm 1959
Louisville (CA-28) 4 tháng 7 năm 1929 1 tháng 9 năm 1930 15 tháng 1 năm 1931 Ngừng hoạt động 17 tháng 6 năm 1946; tháo dỡ năm 1959
Chicago (CA-29) 10 tháng 4 năm 1930 9 tháng 3 năm 1931 Bị đánh chìm trong trận đảo Rennell ngày 30 tháng 1 năm 1943
Houston (CA-30) 1 tháng 5 năm 1928 7 tháng 9 năm 1929 17 tháng 6 năm 1930 Bị đánh chìm trong trận chiến eo biển Sunda ngày 1 tháng 3 năm 1942
Augusta (CA-31) 2 tháng 7 năm 1928 1 tháng 2 năm 1930 30 tháng 1 năm 1931 Ngừng hoạt động 16 tháng 7 năm 1946; tháo dỡ năm 1960


Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Macintyre, Donald, CAPT RN (tháng 9 năm 1967). Shipborne Radar. United States Naval Institute Proceedings. 
  2. ^ Fahey 1941, trang 9
  • Fahey, James C. (1941). The Ships and Aircraft of the U.S. Fleet, Two-Ocean Fleet Edition. Ships and Aircraft. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]