USS Augusta (CA-31)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Augusta (CA-31).jpg
Tàu tuần dương USS Augusta (CA-31)
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Hãng đóng tàu: Newport News Shipbuilding and Dry Dock Co.
Đặt lườn: 2 tháng 7 năm 1928
Hạ thủy: 1 tháng 2 năm 1930
Đỡ đầu bởi: Evelyn McDaniel
Hoạt động: 30 tháng 1 năm 1931
Ngừng hoạt động: 16 tháng 7 năm 1946
Xóa đăng bạ: 1 tháng 3 năm 1959
Biệt danh: "Augie Maru"
Danh hiệu và
phong tặng:
3 Ngôi sao Chiến đấu
Số phận: Bị tháo dỡ năm 1960
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu tuần dương Northampton
Trọng tải choán nước: 9.050 tấn (tiêu chuẩn)
Độ dài: 182,9 m (600 ft 3 in)
Sườn ngang: 20,1 m (66 ft 1 in)
Mớn nước: 5,0 m (16 ft 4 in)
Động cơ đẩy: 4 × Turbine hơi nước Parsons
8 × nồi hơi White-Forster
4 × trục
công suất 107.000 mã lực (79,8 MW)
Tốc độ: 60 km/h (32,5 knot)
Tầm xa: 24.000 km ở tốc độ 28 km/h
(13.000 hải lý ở tốc độ 15 knot)
Tầm hoạt động: Dầu đốt: 1.500 tấn
Thủy thủ đoàn: 735
Hệ thống cảm biến
và xử lý:
Radar RCA CXAM[1]
Vũ trang: 9 × pháo 203 mm (8 inch)/55 caliber Mark 10/11 (3×3)
8 × pháo 127 mm (5 inch)/25 caliber Mark 10[2]
9 × ống phóng ngư lôi 533 mm
8 × súng máy 7,62 mm (.30 calibre)
Bọc giáp: đai giáp: 76 mm (3 inch) trên động cơ;
95 mm (3,75 inch) trên hầm đạn
sàn tàu: 25 mm (1 inch) trên động cơ;
50 mm (2 inch) trên hầm đạn
tháp pháo: mặt trước 63 mm (2,5 inch); nóc 50 mm (2 inch); hông và phía sau 19 mm (0,75 inch)
tháp súng nhỏ: 38 mm (1,5 inch)
Máy bay mang theo: 2 × thủy phi cơ

USS Augusta (CA-31) là một tàu tuần dương hạng nặng của Hải quân Hoa Kỳ, là chiếc cuối cùng của lớp Northampton, và là chiếc tàu chiến đầu tiên của Hải quân Mỹ được đặt cái tên này theo tên của thành phố Augusta tại Georgia.[3] Được đưa vào hoạt động năm 1931, nó được ghi nhận đã phục vụ tại Đại Tây DươngĐịa Trung Hải trong suốt Chiến tranh Thế giới thứ hai, cũng như được cả các Tổng thống Franklin D. RooseveltHarry S. Truman sử dụng trong nhiều chuyến đi trong hoàn cảnh thời chiến, mà đáng kể nhất là Hội nghị Newfoundland, trước khi được cho ngừng hoạt động vào năm 1946 và được tháo dỡ vào năm 1960.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Vốn vẫn bị hạn chế về tải trọng và cỡ pháo bởi Hiệp ước Hải quân Washington, nhưng mang nhiều đặc tính cải tiến so với lớp Pensacola dẫn trước, lớp Northampton mang chín khẩu 203 mm (8 inch) trên ba tháp pháo ba nòng, một cách sắp xếp tối ưu được tiếp nối bởi mọi tàu tuần dương hạng nặng Hoa Kỳ sau này.

Augusta được đặt lườn vào ngày 2 tháng 7 năm 1928 bởi hãng Newport News Shipbuilding and Dry Dock Co. tại Newport News, Virginia. Nó được hạ thủy vào ngày 1 tháng 2 năm 1930, được đỡ đầu bởi Cô Evelyn McDaniel; và được đưa ra hoạt động tại xưởng hải quân Norfolk, Portsmouth, Virginiavào ngày 30 tháng 1 năm 1931 dưới quyền chỉ huy của Thuyền trưởng, Đại tá Hải quân James O. Richardson. Ban đầu mang ký hiệu lườn là CL-31, Augusta được xếp lớp lại là CA-31 vào ngày 1 tháng 7 năm 1931 cho phù hợp với những điều khoản của Hiệp ước Hải quân London năm 1930.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm giữa hai cuộc thế chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Hư hại xảy ra cho một trong những turbine của nó đã rút ngắn chuyến đi chạy thử máy ban đầu, nhưng Augusta tiếp tục tiến hành các hoạt động huấn luyện ban đầu trong một chuyến đi đến Colon, Panama và quay trở lại, trước khi chiếc tàu tuần dương mới được giao vai trò soái hạm cho Tư lệnh Lực lượng Tuần tiễu, Phó Đô đốc Arthur L. Willard, vào ngày 21 tháng 5 năm 1931. Trong mùa Hè năm 1931, nó hoạt động cùng với các tàu chiến khác của Lực lượng Tuần tiễu, tiến hành các cuộc thực hành chiến thuật ngoài khơi bờ biển New England. Vào tháng 8 năm 1931 nó được xếp lại lớp thành một tàu tuần dương hạng nặng với ký hiệu lườn CA-31. Sang tháng 9, Augusta di chuyển về phía Nam đến vịnh Chesapeake, nơi nó cùng các tàu chiến khác tiến hành thực hành tác xạ mùa Thu thường lệ cho đến giữa tháng 11, khi các tàu tuần dương rút về các cảng nhà của chúng. Augusta đi vào xưởng hải quân Norfolk để đại tu vào lúc đó.

Vào đầu năm 1932, nó cùng các tàu tuần dương khác của Lực lượng Tuần tiễu tái tập trung tại Hampton Roads, nơi chúng khởi hành vào ngày 8 tháng 1 hướng đến vịnh Guantánamo thuộc Cuba. Augusta tiến hành các cuộc huấn luyện cùng với Lực lượng Tuần tiễu tại khu vực lân cận vịnh Guantánamo cho đến ngày 18 tháng 2, khi lực lượng khởi hành hướng đến kênh đào Panama trên đường đi đến khu vực Đông Thái Bình Dương tham gia tập trận Vấn đề Hạm đội XIII. Nó đi đến San Pedro, California vào ngày 7 tháng 3 nhưng lại trở ra biển khơi ba ngày sau đó tiến hành tập trận. Trong các cuộc cơ động, Augusta cùng với các tàu chiến đồng đội của Lực lượng Tuần tiễu đã "đối đầu" với Lực lượng Thiết giáp hạm, để bảo vệ ba "đảo san hô" giả lập ở các điểm biệt lập cách xa nhau tại vùng Bờ Tây. Các cuộc tập trận đã cung cấp cho hạm đội việc huấn luyện tuần tiễu chiến lược và một cơ hội để thực hành phòng thủ và tấn công một đoàn tàu vận tải.

Cuộc tập trận hạm đội kết thúc vào ngày 18 tháng 3, nhưng Augusta cùng với phần còn lại của Lực lượng Tuần tiễu không quay trở lại khu vực Đại Tây Dương như những lần trước đây. Trong một hành động dường như báo trước quyết định của Tổng thống Franklin Roosevelt giữ Hạm đội ở lại Trân Châu Cảng vào năm 1940 sau cuộc tập trận Vấn đề Hạm đội XXI, Nội các Hoover giữ Hạm đội tập trung tại khu vực Bờ Tây trong suốt năm 1932 với một hy vọng hão huyền rằng có thể kiềm chế cuộc xâm lấn của Nhật Bản tại Trung Quốc. Trong thực tế, Lực lượng Tuần tiễu vẫn tiếp tục ở tại Bờ Tây trong gần một năm sau đó cho đến lúc tiến hành cuộc tập trận Vấn đề Hạm đội XIV vào tháng 2 năm 1933, để rồi sau đó Nội các Roosevelt lên nắm quyền vào tháng 3, giữ chúng ở lại đây vô thời hạn. Vì vậy, Augusta tiếp tục hoạt động tại khu vực Đông Thái Bình Dương cho đến khi được thay phiên trong vai trò soái hạm của Lực lượng Tuần tiễu vào cuối tháng 10 năm 1933. Chiếc tàu tuần dương rời Xưởng hải quân Puget Sound, bang Washington, lên đường hướng sang Trung Quốc vào ngày 20 tháng 10.

Hạm đội Á Châu[sửa | sửa mã nguồn]

Đi dọc theo con đường "Vòng Cực Lớn" Bắc Thái Bình Dương từ Seattle đến Thượng Hải, Augusta thả neo trên sông Hoàng Phố tại Thượng Hải vào sáng ngày 9 tháng 11 năm 1933. Trưa hôm đó, Đô đốc Frank B. Upham, Tổng tư lệnh Hạm đội Á Châu, đặt cờ hiệu của mình trên chiếc tàu tuần dương vừa mới đến, trong khi soái hạm cũ của ông, chiếc tàu tuần dương chị em Houston, lên đường quay trở về Hoa Kỳ. Không lâu sau đó, Augusta khởi hành từ Thượng Hải hướng về phía Nam vào tháng 12 năm 1933, và trong những tháng tiếp theo đã hoạt động tại Philippines, xen kẻ các đợt huấn luyện với các lần đại tu hàng năm tại CaviteOlongapo.

Mùa Xuân năm 1944, Augusta ở lại vùng biển Trung Quốc biểu dương lực lượng, và sau đó lên đường hướng đến Yokohama, Nhật Bản, đến nơi vào ngày 4 tháng 6. Lúc 7 giờ 30 phút sáng hôm sau, Đô đốc Upham rời tàu tham dự lễ quốc tang của Thủy sư Đô đốc Togo Heihachiro; Augusta bắn 19 phát đạn chào lúc 8 giờ 30 phút để vinh danh vị anh hùng hải quân Nhật Bản. Rời Yokohama cùng Đô đốc Upham vào ngày 11 tháng 6, chiếc tàu tuần dương ghé thăm Kobe từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 6 trước khi lên đường hướng về Thanh Đảo, đến nơi vào ngày 17 tháng 6, lên đường vào ngày 10 tháng 9 ghé qua Tần Hoàng Đảo ngày 24 tháng 9, Yên Đài vào ngày 25 tháng 9, và cuối cùng đến Thượng Hải vào ngày 26 tháng 9.

Augusta tiếp tục ở lại vùng biển Trung Quốc cho đến khi rời Thượng Hải vào ngày 5 tháng 10 năm 1934 hướng đến Guam, dưới quyền chỉ huy của Đại tá Hải quân Chester W. Nimitz, đến nơi vào ngày 10 tháng 10. Lại lên đường ngay ngày hôm sau, nó lần đầu tiên đi đến vùng biển Australia, đến Sydney vào ngày 20 tháng 10. Tổng số thủy thủ đoàn vào lúc này là 824 người, bao gồm 64 sĩ quan và 760 thủy thủ. Nó ở lại đây trong một tuần lễ, trong khi Đô đốc Upham viếng thăm Canberra, thủ đô Australia, trong các ngày 2526 tháng 10. Khi Tư lệnh Hạm đội Á Châu quay trở lại tàu vào ngày 26 tháng 10, Augusta rời Sydney vào ngày hôm sau hướng đến Melbourne, đến nơi vào ngày 29 tháng 10. Nó ở lại đây tham gia các lễ hội mừng kỷ niệm một trăm năm thành phố này cho đến ngày 13 tháng 11, khi nó lên đường hướng đến FremantlePerth. Vào ngày 20 tháng 11 nó lên đường hướng sang Đông Ấn thuộc Hà Lan.

Augusta đến Batavia (ngày nay là Jakarta) vào ngày 25 tháng 11 và ở lại đây cho đến ngày 3 tháng 12, khi nó khởi hành đi Bali, đi đến cảngLauban Amok vào ngày 5 tháng 12. Lại lên đường vào ngày 8 tháng 12, Augusta ghé qua Sandakan từ ngày 14 đến ngày 16 tháng 12, Zamboanga từ ngày 17 đến ngày 19 tháng 12, và Iloilo từ ngày 20 đến ngày 21 tháng 12 trước khi đến Manila vào ngày 22 tháng 12.

Chiếc tàu tuần dương hạng nặng tiếp tục ở lại quần đảo Philippine, thực hiện công việc đại tu cần thiết hàng năm tại Cavite và vào ụ tàu ở Olongapo, trong ụ nổi Dewey (YFD-1), trước khi tiếp tục đón nhận Đô đốc Upham và lên đường vào ngày 15 tháng 3 năm 1935 hướng đến Hong Kong. Đến nơi vào ngày 16 tháng 3, Augusta ở lại đây cho đến ngày 25 tháng 3 trong khi vị Tư lệnh Hạm đội Á Châu chuyển sang chiếc Isabel cho một chuyến đi đến Quảng Châu từ ngày 17 đến ngày 20 tháng 3 năm 1935 (chiếc tàu tuần dương không thể đi ngược dòng sông Châu Giang đến Quảng Châu). Augusta khởi hành vào ngày 25 tháng 3 đi đến Hạ Môn và ở lại đây từ ngày 26 đến ngày 29 tháng 3, trước khi tiếp tục lên đường hướng đến Thượng Hải, và đi đến thành phố cảng này vào ngày cuối cùng của tháng 3.

Augusta tiếp tục ở lại Thượng Hải cho đến ngày 30 tháng 4, khi nó lên đường thực hiện chuyến viếng thăm Nhật Bản thứ hai, đi đến Yokohama vào ngày 3 tháng 5 năm 1935. Con tàu ở lại đây trong hai tuần trước khi khởi hành đi Kobe, và đến nơi vào ngày 18 tháng 5 cho một chặng dừng kéo dài một tuần. Augusta lên đường đi Trung Quốc vào ngày 25 tháng 5, và đến Nam Kinh, thủ đô Trung Quốc lúc đó, vào ngày 29 tháng 5. Chiếc soái hạm tiếp tục ở lại Nam Kinh cho đến ngày 4 tháng 6, rồi lên đường đi Thượng Hải, đến nơi vào ngày hôm sau. "Augie Maru", như thủy thủ đoàn đặt tên lóng một cách trìu mến cho nó, ở lại Thượng Hải cho đến ngày 27 tháng 6 rồi hướng lên phía Bắc Trung Quốc, đến Thanh Đảo vào ngày 29 tháng 6. Nó tiếp tục ở lại đây, tiến hành huấn luyện và thực tập tác xạ cho đến hết mùa Hè năm đó.

Augusta rời Thanh Đảo vào ngày 30 tháng 9 hướng đến Thượng Hải, đến nơi vào ngày 1 tháng 10, nơi mà bốn ngày sau đó, Đô đốc Orin G. Murfin thay thế Đô đốc Upham làm Tổng tư lệnh Hạm đội Á Châu. Vào ngày 8 tháng 10, với vị Tổng tư lệnh mới trên tàu, Augusta rời Thượng Hải hướng về phía Nam. Đô đốc Murfin chuyển sang chiếc Isabel cho một chuyến viếng thăm Bangkok từ ngày 15 đến ngày 22 tháng 10, rồi quay trở lại chiếc tàu tuần dương hạng nặng để viếng thăm Singapore từ ngày 24 đến ngày 30 tháng 10. Tiếp tục ghé qua Pontianak từ ngày 31 tháng 10 đến ngày 1 tháng 11Jesselton thuộc Borneo từ ngày 3 đến ngày 5 tháng 11, "Augie Maru" viếng thăm các cảng phía Nam Philippine Zamboanga từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 11 và Iloilo từ ngày 9 đến ngày 10 tháng 11 trước khi quay trở về Manila vào ngày 11 tháng 11 năm 1935.

Trong khi Augusta trải qua đợt đại tu hàng năm tại Cavite và Olongapo, Đô đốc Murfin đặt cờ hiệu của mình trên chiếc Isabel từ ngày 14 tháng 12 năm 1935 đến ngày 27 tháng 2 năm 1936. Không lâu sau, cùng với vị Tư lệnh trên tàu, nó lên đường ghé thăm một loạt các cảng và địa điểm Philippine: Catbalogan, Cebu, Tacloban, Davao, Dumanquilas, Zamboanga, vịnh Tutu, Jolo và Tawi Tawi trước khi quay trở về Manila vào ngày 29 tháng 3.

Vào ngày 31 tháng 3 Augusta lên đường đi Hong Kong, đến nơi vào ngày 2 tháng 4, và ở lại đó cho đến ngày 11 tháng 4. Trong thời gian này, Đô đốc Murfin chuyển sang Isabel cho chuyến đi ngược dòng sông Châu Giang đến Quảng Châu từ ngày 6 đến ngày 8 tháng 4, trước khi quay trở lại con tàu tuần dương tiếp tục chuyến đi dọc theo bờ biển Trung Quôc. Ghé thăm Hạ Môn trong các ngày 1213 tháng 4, Augusta dừng chân một chặng ngắn tại Woosung vào ngày 16 tháng 4 trước khi ngược dòng sông Dương Tử, đến Nam Kinh ngày hôm sau. Trong khi Augusta xuôi dòng Dương Tử quay trở lại sông Hoàng Phố và Thượng Hải, Đô đốc Murfin tiếp tục ngược dòng Dương Tử đến Hán khẩu trên chiếc Isabel, bay đến Nghi Xương, rồi lên chiếc USS Panay để cuối cùng quay trở lại Hán khẩu và Thượng Hải trên chiếc Isabel, và trở lên Augusta vào ngày 4 tháng 5.

Augusta khởi hành đi Nhật Bản vào ngày 21 tháng 5, thực hiện chuyến viếng thăm thứ ba đến đất nước này, và đã đến Yokohama vào ngày 25 tháng 5. Chiếc soái hạm của Hạm đội Á Châu ở lại cảng này cho đến ngày 5 tháng 6, khi nó khởi hành đi Kobe, đến nơi vào ngày hôm sau. Nó tiếp tục ở lại vùng biển Nhật Bản cho đến ngày 13 tháng 6, khi nó khởi hành đi Thanh Đảo, đến nơi vào ngày 16 tháng 6. Nó tiến hành các hoạt động thực tập và huấn luyện tại đây trong hai tháng, rồi lên đường đi Yên Đài thuộc phía Bắc Trung Quốc vào ngày 17 tháng 8. Đến nơi cùng ngày hôm đó, nó rời Yên Đài vào ngày 21 tháng 8 quay trở lại Thanh Đảo và ở lại đây cho đến giữa tháng 9.

Lên đường vào ngày 14 tháng 9 hướng đến Tần Hoàng Đảo, thành phố cảng nằm dưới chân Vạn lý Trường thành, Augusta đến nơi vào ngày 15 tháng 9 khi Đô đốc Murfin lên bờ viếng thăm Bắc Bình (nay là Bắc Kinh). Sau khi thị sát đơn vị vệ binh Thủy quân Lục chiến tại thành phố, tư lệnh Hạm đội Á Châu quay trở lại Tần Hoàng Đảo bằng tàu hỏa và trở lại soái hạm vào ngày 25 tháng 9. Lên đường vào ngày 28 tháng 9, Augusta ghé qua Yên Đài cùng ngày hôm đó và đến Thanh Đảo ngày hôm sau, 29 tháng 9 năm 1936. Nó lên đường ngay ngày hôm đó và đến Thượng Hải vào ngày 1 tháng 10. Đến ngày 30 tháng 10, Đô đốc Murfin bàn giao lại chức vụ tư lệnh Hạm đội Á Châu cho Đô đốc Harry E. Yarnell. Không lâu sau đó, với vị tư lệnh mới trên tàu, Augusta rời sông Hoàng Phố vào ngày 3 tháng 11 năm 1936 trong chuyến đi thường lệ hàng năm về phía Nam.

Một lần nữa Augusta viếng thăm một loạt các cảng quan trọng tại Đông Nam Á: Hong Kong từ ngày 5 đến ngày 12 tháng 11, Singapore từ ngày 16 đến ngày 23 tháng 11, Batavia từ ngày 25 tháng 11 đến ngày 1 tháng 12, Bali từ ngày 4 đến ngày 7 tháng 12, Makassar từ ngày 8 đến ngày 12 tháng 12, Tawi Tawi và vịnh Tutu trong ngày 14 tháng 12, vịnh Dumanquilas trong ngày 15 tháng 12, Zamboanga từ ngày 15 đến ngày 16 tháng 12 và Cebu vào ngày 17 tháng 12 trước khi quay về Manila vào ngày 19 tháng 12. Đô đốc Yarnell chuyển cờ hiệu của mình sang chiếc Isabel vào ngày 2 tháng 1 năm 1937, khi Augusta đi vào Xưởng hải quân Cavite để sửa chữa và tái trang bị, bao gồm việc bổ sung vỏ giáp chống mảnh đạn chung quanh các vị trí súng máy ở sàn trước và cột ăn-ten. Tư lệnh Hạm đội Á Châu sử dụng Isabel như soái hạm cho đến tháng 3, trước khi quay trở lại Augusta tại Manila vào ngày 29 tháng 3 năm 1937.

Tái trang bị[sửa | sửa mã nguồn]

Hạm đội Đại Tây Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Mở đầu Chiến tranh Thế giới thứ hai[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến dịch Torch[sửa | sửa mã nguồn]

Morocco[sửa | sửa mã nguồn]

Normandy[sửa | sửa mã nguồn]

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Augusta được tặng thưởng ba Ngôi sao Chiến đấu do thành tích phục vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • USS Augusta: về những tàu chiến Hoa Kỳ khác mang cùng tên.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Macintyre, Donald, CAPT RN (tháng 9 năm 1967). Shipborne Radar. United States Naval Institute Proceedings. 
  2. ^ Fahey 1941, trang 9
  3. ^ Căn cứ theo en:Dictionary of American Naval Fighting Ships, tên của nó được đặt theo Augusta, Georgia chứ không phải là Augusta, Maine

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bài này có các trích dẫn từ nguồn en:Dictionary of American Naval Fighting Ships thuộc phạm vi công cộng.
  • Fahey, James C. (1941). The Ships and Aircraft of the U.S. Fleet, Two-Ocean Fleet Edition. Ships and Aircraft. 
  • Stephens, Bart D., Editor, Commander, (Chaplain Corps) (1934). Augusta Cruises From Orient to Oceania, Being the 1934 Cruise of the U.S.S. Augusta from China to Guam, Australia, Dutch East Indies and Philippine Islands. Ship's publication. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]