Tōgō Heihachirō

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tōgō Heihachirō
Tōgō Heihachirō.jpg

Tiểu sử
Sinh


Kagoshima, Satsuma, Nhật Bản
Mất


Tokyo, Nhật Bản
Binh nghiệp
Phục vụ Hải quân Đế quốc Nhật Bản
Thuộc Naval Ensign of Japan.svg Hải quân Đế quốc Nhật Bản
Năm tại ngũ 1863 – 1913
Cấp bậc Nguyên soái đại tướng hải quân
Tham chiến Chiến tranh Anh-Satsuma
Chiến tranh Boshin
Chiến tranh Thanh-Nhật
Chiến tranh Nga-Nhật
Khen thưởng Huy hiệu tối cao Huân chương Hoa Cúc
Huân chương Diều Hâu vàng (hạng 1)
Huân chương Merit
Huân chương Victoria Cross
Công việc khác Chánh gia sư cho hoàng tử Hirohito
Đây là một tên người Nhật; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Tōgō. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp tên người Nhật hiện đại khi viết bằng ký tự La Tinh thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau).

Tōgō Heihachirō (东鄉平八郎; Hán-Việt: Đông Hương Bình Bát Lang; 27 tháng 1 năm 184830 tháng 5 năm 1934) là một võ sĩ Nhật Bản và là một quân nhân trong Hải quân Đế quốc Nhật Bản. Ông đã được phong các chức nguyên soái đại tướng hải quân, hầu tước, được trao Huân chương Hoa cúc, Huân chương quân công hạng nhất, được thờ như một vị thần cấp tòng nhất vị. Ông là một trong những anh hùng thủy tướng vĩ đại nhất của đất nước mặt trời mọc. Ông được báo chí phương Tây đặt cho biệt hiệu "Nelson của phương Đông".

Đầu đời[sửa | sửa mã nguồn]

Tōgō sinh ngày 27 tháng 1 năm 1848 (lịch dương) ở quận Kachiyacho, thành phố Kagoshima, phiên bang Satsuma (hiện nay là tỉnh Kagoshima) ở nước Nhật thời phong kiến. Cha ông là một Samurai, người phục vụ cho thị tộc Shimazu, Tōgō có ba người anh em.

Kachiyacho là một trong những quận sinh sống của chiến binh samurai tại thành phố Kagoshima, trong đó rất nhiều nhân vật lừng danh khác của thời kỳ Minh Trị từng được sinh ra tại đây như Saigō TakamoriOkubo Toshimichi. Họ đã vươn lên thành những nhân vật then chốt dưới thời Thiên hoàng Minh Trị, một phần vì thị tộc Shimazu là một lực lượng quân sự hùng mạnh cũng như những yếu tố về chính trị trong chiến tranh Mậu Thìn chống lại Mạc phủ Tokugawa (Đức Xuyên Mạc phủ) và cả những yếu tố chính trị trong cuộc Minh Trị duy tân.

Những trận chiến Tokugawa (1863-1869)[sửa | sửa mã nguồn]

Trải nghiệm chiến đấu đầu tiên của Tōgō là trong chiến tranh Anh-Satsuma (tháng 8 năm 1863) khi ông 15 tuổi, trong đó thành phố Kagoshima bị hải quân hoàng gia Anh oanh tạc nhằm trừng trị đại danh của tỉnh Satsuma vì vụ ám sát Charles Lennox Richardson trên đường Tōkaidō năm trước đó, trong đó Nhật Bản từ chối trả tiền bồi thường.

Năm sau đó, phiên Satsuma thành lập một đội hải quân, trong đó Tōgō và hai người anh của ông được kết nạp vào đội. Tháng 1 năm 1868, trong suốt chiến tranh Mậu Thìn, Tōgō được phong lên làm người cầm lái cho tàu chiến hơi nước Kasuga, con tàu đã tham gia trong thủy chiến Awa, gần Osaka, chống lại lực lượng hải quân của Mạc Phủ, đây là trận thủy chiến đầu tiên của Nhật Bản giữa những hạm đội tàu hiện đại.

Khi mà trận chiến lan tới Bắc Nhật Bản, Tōgō trở thành sĩ quan hạng ba trên tàu Kasuga trong các trận chiến cuối cùng với tàn dư của lực lượng Mạc Phủ như trận thủy chiến Miyakothủy chiến Hakodate (1869)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]