HMS Rodney (29)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Về những tàu chiến Anh Quốc khác mang cùng tên, xin xem HMS Rodney.


HMS Rodney (1925).jpg
Thiết giáp hạm HMS Rodney vào năm 1925
Phục vụ (Anh Quốc) Naval Ensign of the United Kingdom.svg
Đặt tên theo: Đô đốc George Brydges Rodney
Đặt hàng: 1922
Hãng đóng tàu: Cammell-Laird tại Birkenhead
Đặt lườn: 28 tháng 12 năm 1922
Hạ thủy: 17 tháng 12 năm 1925
Hoạt động: 10 tháng 11 năm 1927
Ngừng hoạt động: 1946
Xóa đăng bạ: 1947
Biệt danh: Rodnol
Số phận: Bị bán để tháo dỡ ngày 26 tháng 3 năm 1948
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp thiết giáp hạm Nelson
Trọng tải choán nước: 33.950 tấn (tiêu chuẩn);
38.000 tấn (đầy tải) [1]
Độ dài: 201 m (660 ft) mực nước
216,4 m (710 ft) chung
Sườn ngang: 32,3 m (106 ft)
Mớn nước: 8,7 m (28 ft 6 in) tiêu chuẩn;
9,6 m (31 ft 6 in) (đầy tải)
Động cơ đẩy: 2 × Turbine hơi nước Brown-Curtis
8 × nồi hơi Yarrow, áp suất 1.700 kPa (250 psi)
2 × trục
công suất 45.000 mã lực (33,5 MW)
Tốc độ: 44,1 km/h (23,8 knot)
Tầm xa: 13.000 km ở tốc độ 30 km/h
(7.000 hải lý ở tốc độ 16 knot)
Thủy thủ đoàn: 1.640
Hệ thống cảm biến
và xử lý:
radar Kiểu 79Y (1939)[2]
Vũ trang: 9 × pháo BL 406 mm (16 inch) Mk I (3×3)
12 × pháo BL 152 mm (6 inch) Mk XXII (6×2)
6 × pháo QF 119 mm (4,7 inch) Mk VIII
48 × pháo phòng không QF 2 pounder 40 mm (6×8)
20 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm
Bọc giáp: Đai giáp: 227-355 mm (9-14 inch)
Sàn giữa: 158 mm (6,25 inch) trên hầm đạn, 76 mm (3 inch) trên động cơ
Sàn dưới: 158 mm (6,25 inch) trên bánh lái
Vách ngăn dọc: 38 mm (1,5 inch)
Tháp pháo 16 inch: 178-406 mm (7-16 inch)
Tháp pháo 6 inch: 25-38 mm (1-1,5 inch)
Tháp chỉ huy: 190-343 mm (7,5-13,5 inch)
Tháp điều khiển hỏa lực: 102-152 mm (4-6 inch)
Máy bay mang theo: 2 × máy bay
Thiết bị bay: 1 × máy phóng trên tháp pháo 'B'

HMS Rodney (29) là một trong số hai chiếc thiết giáp hạm thuộc lớp Nelson được chế tạo cho Hải quân Hoàng gia Anh Quốc giữa hai cuộc thế chiến. Tên của nó được đặt nhằm tôn vinh Đô đốc Sir George Brydges Rodney, người chiến thắng Trận chiến mũi St. Vincent năm 1780. Lớp Nelson mang nhiều điểm độc đáo trong lịch sử chế tạo thiết giáp hạm Anh Quốc, là những chiếc duy nhất mang dàn pháo chính 406 mm (16 inch), và cũng là những chiếc duy nhất có toàn bộ pháo chính được bố trí phía trước cấu trúc thượng tầng. Đây là do những giới hạn của Hiệp ước hải quân Washington.

Được đưa vào hoạt động năm 1927, Rodney đã phục vụ rộng rãi tại Đại Tây Dương và Địa Trung Hải trong suốt Chiến tranh Thế giới thứ hai, và đã đóng một vai trò chính trong việc đánh chìm thiết giáp hạm Đức Bismarck vào tháng 5 năm 1941. Trước khi chiến tranh kết thúc, do ở trong tình trạng rất kém do sử dụng liên tục và thiếu tu bổ, Rodney được cho ngừng hoạt động vào cuối năm 1944 và bị tháo dỡ vào năm 1948.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Được chế tạo dưới những sự kiềm chế của Hiệp ước Hải quân Washington năm 1922, Anh Quốc được phép chế tạo thêm hai thiết giáp hạm mới trang bị cỡ pháo 406 mm (16 inch). Thiết kế dự định có một dàn pháo chính 406 mm (16 inch) nhằm theo kịp hỏa lực của lớp Colorado của Hoa Kỳ và lớp Nagato của Nhật Bản trên một con tàu có một trọng lượng rẽ nước không vượt quá 35.000 tấn. Thừa hưởng một số đặc tính thiết kế của lớp tàu chiến-tuần dương G3, mọi khẩu pháo chính 406 mm (16 inch) trên ba tháp pháo đều được bố trí phía trước, tốc độ tối đa của con tàu bị giảm bớt và vỏ giáp tối đa chỉ giới hạn cho những khu vực sống còn.

Ngay cả với những hạn chế trong thiết kế gò bó các nhà thiết kế bởi Hiệp ước, RodneyNelson được xem là những thiết giáp hạm mạnh mẽ nhất từng nổi trên mặt nước cho đến khi thế hệ mới các tàu chiến toàn súng lớn được hạ thủy vào năm 1936.

Chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Rodney được đặt lườn vào ngày 28 tháng 12 năm 1922, cùng ngày với con tàu chị em Nelson, và được đóng tại Birkenhead bởi hãng Cammell-Laird. Nó được hạ thủy vào tháng 12 năm 1925, được đưa ra hoạt động vào tháng 11 năm 1927, ba tháng trễ hơn con tàu chị em Nelson. Phí tổn chế tạo của Rodney là 7,6 triệu Bảng Anh. Thuyền trưởng chỉ huy nó trong năm 1929George Campell Ross (sau này là Đô đốc), con của Sir Archibald Ross, một nhà tiên phong trong lĩnh vực kỹ sư hàng hải và đóng tàu.

Do hình dáng khá khác thường, HMS Rodney bị người của Hải quân Hoàng gia đặt cái tên lóng châm biếm Rodnol – những vấn đề trong khi cơ động và kiểu dáng chỉ có một ống khói duy nhất gợi nhớ những chiếc tàu chở dầu, nhất là một loạt các tàu chở dầu hạm đội được chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất mang những cái tên tận cùng bằng "ol".[3]

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Từ khi đưa vào hoạt động cho đến khi Chiến tranh Thế giới thứ hai nổ ra vào tháng 9 năm 1939, Rodney trải qua suốt thời gian phục vụ cùng Hạm đội Đại Tây Dương hoặc Hạm đội Nhà. Năm 1931, thủy thủ trên cả Rodney lẫn Nelson đều đã tham gia cùng thủy thủ trên các tàu chiến khác trong cuộc binh biến Invergordon. Vào cuối tháng 12 năm 1939, nó trải qua một đợt tái trang bị và sửa chữa do có những vấn đề trong hệ thống bánh lái của nó.

Rodney bị hư hại bởi một máy bay Đức tại Karmøy gần Bergen thuộc Na Uy vào ngày 9 tháng 4 năm 1940 khi trúng phải một quả bom 500 kg (1.103 lb) đâm thủng vỏ giáp sàn tàu, nhưng may mắn là không phát nổ. Ngày 13 tháng 9 năm 1940, nó được lệnh chuyển từ Scapa Flow đến Rosyth để có thể hoạt động tại eo biển Anh Quốc trong trường hợp Đức tấn công Anh xảy ra. Trong tháng 11tháng 12, nó thực hiện nhiệm vụ hộ tống các đoàn tàu vận tải giữa Anh và Halifax, Nova Scotia. Trong tháng 1 năm 1941, Rodney tham gia truy đuổi không thành công các tàu chiến-tuần dương Đức Scharnhorst(tàu chiến-tuần dương Đức)Gneisenau. Một lần nữa vào ngày 16 tháng 3, trong khi hộ tống một đoàn tàu vận tải trong khu vực Bắc Đại Tây Dương, nó bắt gặp các tàu chiến-tuần dương Đức, nhưng trận chiến đã không xảy ra, vì các tàu chiến Đức đã quay mũi đi khỏi sau khi chúng nhận ra phải đối đầu với một hỏa lực pháo hùng hậu.

Truy đuổi Bismarck[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 5 năm 1941, dưới quyền chỉ huy của Đô đốc Frederick Dalrymple-Hamilton, Rodney cùng hai tàu khu trục tiến hành hộ tống con tàu chở binh lính RMS Britannic đi đến Canada; chiếc Britannic đang đưa những thường dân sang Canada và sẽ chuyển các đơn vị quân đội Canada sang Anh Quốc. Đang khi trên đường đi vào ngày 24 tháng 5, nó được lệnh tham gia cuộc truy đuổi thiết giáp hạm Đức Bismarck. Ngày 26 tháng 5, nó gặp gỡ thiết giáp hạm King George V. Vị chỉ huy của lực lượng, Đô đốc Sir John Tovey, phải gửi các tàu khu trục quay trở về nhà do hết nhiên liệu, và Rodney bị tụt lại phía sau King George V do thua kém về tốc độ cho trận chiến ngày hôm sau chống lại Bismarck. Sáng sớm ngày 27 tháng 5 năm 1941, cùng với thiết giáp hạm King George V và các tàu tuần dương NorfolkDorsetshire, Rodney đối đầu với Bismarck, vốn đã bị hư hại hệ thống dẫn động bánh lái do cuộc tấn công bằng ngư lôi từ những chiếc máy bay Fairey Swordfish ngày hôm trước. Bismarck không ghi được phát trúng đích nào cho đến khi các khẩu pháo của nó bị loại khỏi vòng chiến, và sau đó Rodney tiến đến gần Bismarck đến mức có thể bắn trực diện, và trinh sát có thể theo dõi đường đạn đến mục tiêu. Một phát đạn pháo 406 mm (16 inch) đã bắn trúng trực tiếp mặt trước tháp pháo số 2 (Bruno) của Bismarck và làm nổ tung mặt sau tháp pháo. Sau đó nó được lệnh rút khỏi vòng chiến và quay trở về nhà do đã cạn nhiên liệu.

Lực lượng H[sửa | sửa mã nguồn]

HMS Rodney đang nả pháo hạng nặng xuống vị trí đối phương dọc bờ biển Caen trong cuộc đổ bộ Normandy.

Sau sự kiện này, Rodney được gửi đến Xưởng hải quân Boston tại Massachusetts thuộc Hoa Kỳ để sửa chữa động cơ. Đây là một sự kiện đáng chú ý vì Hoa Kỳ chỉ chính thức tham gia chiến tranh sau nhiều tháng nữa, và vị trí ụ tàu mà Rodney được sửa chữa minh họa thái độ đồng tình của Chính phủ Mỹ trong bối cảnh xung đột toàn cầu đang gia tăng. Vì công việc sửa chữa kéo dài nhiều tuần để hoàn tất, thủy thủ đoàn của Rodney được cho nghỉ phép đến các Đoàn Bảo trì Dân sự địa phương. Trong thời gian này, một số thành viên thủy thủ đoàn đã tạo được mối quan hệ lâu dài với dân thường Hoa Kỳ.[4]

Vào tháng 9 năm 1941, Rodney được bố trí cùng Lực lượng H đặt căn cứ tại Gibraltar, và tham gia hộ tống các đoàn tàu vận tải đến Malta. Sang tháng 11, nó quay trở về nhà, và đã được bố trí tại Iceland trong một tháng. Sau đó nó được tái trang bị và sửa chữa cho đến tháng 5 năm 1942. Qauy trở lại Lực lượng H sau đợt tái trang bị, một lần nữa Rodney lại hộ tống các đoàn tàu vận tải đi đến Malta, rồi tham gia Chiến dịch Torch, cuộc đổ bộ lực lượng Đồng Minh lên Bắc Phi. Sau đó nó còn tham gia hỗ trợ cho các cuộc đổ bộ lên SiciliaSalerno. Từ tháng 10 năm 1943, nó quay trở lại Hạm đội Nhà, và tham gia cuộc đổ bộ Normandy vào tháng 6 năm 1944, bắn pháo tiêu diệt các mục tiêu đối phương tại CaenAlderney. Trong tháng 9 năm 1944, nó đảm trách vai trò hộ tống các đoàn tàu vận tải đi đến Murmansk.

Trong suốt cuộc chiến tranh, nó đã di chuyển đến 290.000 km (156.000 hải lý) mà không hề được đại tu động cơ kể từ năm 1942. Vì thường xuyên mắc phải các vấn đề về hệ thống động lực, cũng như một thực tế là nó không được nâng cấp ngang bằng với con tàu chị em Nelson, nên bắt đầu từ tháng 12 năm 1944, nó được đưa về lực lượng dự bị tại Scapa Flow, trong khi thủy thủ đoàn được điều sang các con tàu mới được chế tạo. Nó tiếp tục ở lại đó cho đến khi bị bán để tháo dỡ vào tháng 2 năm 1948. Nó bắt đầu được tháo dỡ vào ngày 26 tháng 3 năm 1948 tại Inverkeithing.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lenton, H. T. British and Empire Warships of the Second World War. Greenhill Books. ISBN 1-85367-277-7. 
  2. ^ Macintyre, Donald, CAPT RN "Shipborne Radar" United States Naval Institute Proceedings tháng 9 năm 1967 trang 75
  3. ^ http://www.ibiblio.org/maritime/media/index.php?cat=1075
  4. ^ Wright Museum Org. documents

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • Siegfried Breyer, Battleships and Battlecruisers (Doubleday and Company; Garden City, New York, 1973) (nguyên bản tiếng Đức: Schlachtschiffe und Schlachtkreuzer, J.F. Lehmanns Verlag, München, 1970). Contains various line drawings of the ship as built and as modified.
  • Ludovic Kennedy, Pursuit: The Sinking of the Bismarck.
  • Iain Ballantyne, "H.M.S. Rodney" (Warships of the Royal Navy).

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]