JYJ
| JYJ | |
|---|---|
| Thông tin nghệ sĩ | |
| Nghệ danh | Junsu/Jejung/Yuchun |
| Nguyên quán | Seoul, Hàn Quốc / |
| Thể loại | K-pop, J-pop, Pop, R&B |
| Năm | 2010–nay |
| Hãng đĩa | Rhythm Zone (đình chỉ) Warner C-JeS |
| Hợp tác | TVXQ, Kanye West, Rodney Jerkins |
| Website | http://c-jes.com/w/home |
| Thành viên hiện tại | |
| Jejung Yuchun Junsu |
|
JYJ (trước kia được biết đến như Jejung/Yuchun/Junsu) là một nhóm nhạc nam 3 thành viên của Hàn Quốc, được tạo thành từ ba thành viên của TVXQ: Jejung, Yuchun và Junsu. Tên nhóm được ghép từ chữ cái đầu của mỗi thành viên. Mini album ra mắt tiếng Nhật của họ, The... đạt No. 1 trên BXH album Oricon.[1] Album toàn cầu đầu tiên của nhóm, The Beginning, đã được phát hành vào ngày 14 tháng 10 năm 2010 và sau đó đạt vị trí #5 trong cuộc bình chọn Top 10 Best Album Of 2010 của Billboard, Mỹ. Album phòng thu thứ hai của nhóm, In Heaven được phát hành vào ngày 28 tháng 9 năm 2011.
Mục lục |
Lịch sử hoạt động [sửa]
Nhóm được thành lập sau khi TVXQ tạm dừng hoạt động.[1] 3 thành viên mà sau này là JYJ đã đệ đơn kiện công ty chủ quản tại Hàn Quốc, SM Entertainment, cho rằng bản hợp đồng 13 năm và thu nhập theo phần trăm họ nhận được là không công bằng. Tòa án Trung tâm quận Seoul đã phán quyết nghiêng về phía 3 thành viên, cho phép họ tạm dừng hợp đồng với SM Entertainment và tự do theo đuổi các hoạt động cá nhân .[2]
Nhóm nhạc được công bố vào tháng 4 năm 2010 bởi Rhythm Zone.[3] Nhóm đã tổ chức concert 4 ngày, Thanksgiving Live in Dome vào tháng 6,[3] và biểu diễn tại A-Nation trong tháng 8.[4] Mini-album đầu tay của nhóm, The..., phát hành ngày 8 tháng 9 năm 2010, khởi đầu với No. 1 trên BXH album Oricon.[1] DVD của concert Thanksgiving Live in Dome tiêu thụ 116,000 bản và album The... là 148,000 bản trong tuần đầu tiên phát hành, cùng giữ ngôi quán quân trên BXH DVD và album trong cùng 1 tuần.[5]
Các thành viên cũng có những hoạt động solo trong thời gian này. Junsu phát hành đĩa đơn ra mắt Xiah, đạt No. 2 trên BXH đĩa đơn Oricon.[6] Anh cũng ra mắt trong lĩnh vực nhạc kịch tại Hàn Quốc với vở nhạc kịch Mozart và cũng đã tổ chức một concert nhạc kịch mang tên "Junsu with Levay" vào tháng 10 năm 2010, hợp tác với nhà soạn nhạc nổi tiếng Sylvester Levay.
Jejung ra mắt với bộ phim điện ảnh đầu tay tại Hàn Quốc, Heaven's Postman, bên cạnh nữ diễn viên Han Hyo Joo. Anh cũng khởi nghiệp diễn viên tại Nhật Bản với một vai trong bộ phim truyền hình Sunao ni Narenakute,[7] và xuất hiện trong MV Blossom của Ayumi Hamasaki.[8]
Yoochun bắt đầu sự nghiệp điện ảnh tại Hàn Quốc với bộ phim truyền hình Sungkyunkwan Scandal.
Vào tháng 9 năm 2010, Avex tuyên bố đình chỉ các hoạt động tại Nhật Bản của JYJ.[2] với lí do mà Avex đưa ra là công ty môi giới của JYJ tại Hàn Quốc có dính lứu đến xã hội đen . Nhóm phát hành album tiếng Anh toàn cầu đầu tiên, The Beginning vào 14 tháng 10, hợp tác với Kanye West trong single "Ayyy Girl."[9] Họ cũng đã chính thức khởi động tour showcase toàn thế giới, được tổ chức tại Hàn Quốc, Đông Nam Á và Mỹ.[10] Vé cho 2 buổi biểu diễn ở sân vận động Hwaseong 11,000 chỗ tại Đại học Cao Ly đã bán hết trong vòng 15 phút và 1 phần lợi nhuận sẽ được ủng hô cho World Vision.[11][12] 2 tuần trước khi phát hành album, 50,000 bản thường đã được đặt trước và lượng đặt hàng cho phiên bản đặc biệt 99,999 bản đã lên con số 400,000.[11][13]. The Beginning đã chiếm quán quân bảng xếp hạng Hanteo và Gaon trong tháng 11.
Vì lí do visa P1 của 3 thành viên bị từ chối trong chuyến lưu diễn tại Mĩ và phải đối mặt với nguy cơ hủy bỏ chương trình, JYJ quyết định tiếp tục chuyến lưu diễn dưới hình thức hòa nhạc không bán vé. Sau khi biểu diễn thành công tại New York City, Los Angeles và Las Vegas, JYJ quay trở về Hàn Quốc tổ chức "JYJ Worldwide Concert in Seoul" trong 2 ngày tại SVĐ Jamsil Olimpic. Theo kế hoạch ban đầu, buổi biểu diễn sẽ tổ chức dưới dạng Dome-concert lần đầu tiên tại Hàn Quốc, với SVĐ sẽ được lắp đặt mái che. Nhưng do cơn bão tuyết sáng 27 tháng 11, mái che SVĐ đã bị phá hỏng nên kế hoạch buộc phải thay đổi, khiến cho ngày 27, chương trình đã bị hoãn lại hơn 1 tiếng đồng hồ để xử lí tháo gỡ phần mái che và màn trình diễn tia lases không được tiến hành như dự định. Bất chấp thời tiết khắc nghiệt và sự cố ngoài ý muốn, buổi biểu diễn vẫn diễn ra tốt đẹp vào đêm 27 và 28, trong sự cổ vũ của hơn 75.000 khán giả.
Ngày 24 tháng 1, JYJ đã phát hành một album mới dưới dạng "tiểu luận âm nhạc" (music essay) có nhan đề Their room, Our Story, bao gồm 6 ca khúc mới do 3 thành viên tự sáng tác và sản xuất.
Bị cấm vận xuất hiện trên truyền hình nhưng JYJ vẫn không hề nản chí. Nhóm đã quyết định tổ chức tour diễn thế giới với điểm dừng chân đầu tiên là Thái Lan. Concert tại Thái Lan diễn ra và ngày 2 và ngày 3 tháng 4 thu hút khoảng 22.000 người hâm mộ.Đặc biệt, thành viên Hero Jaejoong còn tham gia với tư cách là một đạo diễn. Ngoài ra, trong tour diễn lần này, JYJ tiếp tục cho ra mắt khán giả 4 ca khúc mới của nhóm: You're, Get out, In heaven và Boy's Letter. Sau hai tháng vòng quanh Thái Lan, Đài Loan, Trung Quốc, Canada, Mỹ, chuyến lưu diễn thế giới của JYJ đã kết thúc tại Busan (Hàn Quốc với hơn 17.000 khán giả tham gia.Có thể nói, tour diễn vòng quanh thế giới 2011 của JYJ đã kết thúc vô cùng thành công tốt đẹp.
Danh sách đĩa nhạc [sửa]
Album [sửa]
| Năm | Thông tin album | BXH Oricon[14] |
BXH Hanteo |
Tiêu thụ[15] |
|---|---|---|---|---|
| 2010 | The Beginning
|
11 | 1 | 62.000 (Oricon style - Korea import)[15] 315,000 (Korea)
|
Mini-album [sửa]
| Năm | Thông tin album | Oricon Albums Charts [14] |
Tiêu thụ[15] |
|---|---|---|---|
| 2010 | The...
|
1 | 175,000 (Oricon Style) |
| 2011 | Their Rooms Uri Iyagi (우리 이야기 "Our Story")
|
TBA | TBA |
DVD [sửa]
- 3hree Voices (28 tháng 7, 2010)
- Thanksgiving Live in Dome (8 tháng 9, 2010)
Chuyến lưu diễn [sửa]
- Thanksgiving Live in Dome (Tháng 6, 2010)
- New Album Showcase Tour 2010 (Tháng 10-11, 2010)
- JYJ World Tour 2011 (Tháng 2-6, 2011)
Danh sách giải thưởng [sửa]
| Năm | Giải thưởng |
|---|---|
| 2011 |
|
Chú thích [sửa]
- ^ a b c “東方神起新ユニット、デビュー作が初日首位”. Oricon (bằng Japanese). 9 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2010.
- ^ a b Lee, Woo-young (23 tháng 9 năm 2010). “Three members of TVXQ face setback in Japan”. The Korean Herald (Park Haeng-hwan). Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2010.
- ^ a b “ジュンス、ジェジュン、ユチョンによる新ユニット結成!”. Rhythm Zone (bằng Japanese). 14 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2010.
- ^ “「JUNSU/JEJUNG/YUCHUN」「a-nation'10 powered by ウイダーinゼリー」出演決定!!”. Rhythm Zone (bằng Japanese). 28 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2010.
- ^ “東方神起・新ユニット、海外アーティスト史上初のアルバム&DVD2冠”. Oricon (bằng Japanese). 14 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2010.
- ^ “XIAH(DVD付) - XIAH junsu”. Oricon (bằng Japanese). Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2010.
- ^ “活動休止の東方神起・ジェジュンが『anan』表紙に登場 恋愛観を赤裸々に語る”. Oricon (bằng Japanese). 8 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2010.
- ^ “歌手浜崎あゆみ、「25作連続1位」の新記録” (bằng Japanese). Innolife. 5 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2010.
- ^ “JYJ Announces "The Beginning"”. Music Releases. 30 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2010.
- ^ “TOUR SCHEDULE”. JYJ Official Website. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2010.
- ^ a b 유, 순호 (7 tháng 10 năm 2010). “JYJ 파워! 하루 70억 수입”. MetroSeoul (bằng Korean). Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2010.
- ^ “동방신기 3인, 월드와이드 쇼케이스 나서”. Hankooki (bằng Korean). 4 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2010.
- ^ “JYJ 첫 앨범 '동방신기' 넘나”. Hankooki (bằng Korean). 30 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 10 năm 2010.
- ^ a b “アーティスト: JUNSU/JEJUNG/YUCHUN”. Oricon. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2010.
- ^ a b c “オリコンランキング情報サービス「you大樹」”. Oricon. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2010. (subscription only)
- ^ http://www.yesasia.com/global/jyj-jejung-yuchun-junsu-the-beginning-normal-version-poster/1023560094-0-0-0-en/info.html
- ^ “7th Channel V Thailand Music Video Awards” (bằng English, Thai).
- ^ “2011 KBS Best Icon Awards: The Best Idol Star” (bằng Korean).
- ^ a b c d “So-Loved Awards 2011” (bằng English, Deutsch). Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2011.