Kämpfer

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kämpfer
Kampfer DVD boxset.jpg
けんぷファー
(Kenpufā)
Thể loại Hành động, harem, lãng mạn, hài hước
Light novel
Tác giả Tsukiji Toshihiko
Minh họa Senmu
Nhà xuất bản Media Factory
Đối tượng Nam
Ấn hiệu MF Bunko J
Phát hành Ngày 24 tháng 11 năm 2006Ngày 25 tháng 3 năm 2010
Số tập 15
Manga
Tác giả Tsukiji Toshihiko
Minh họa Tachibana Yu
Nhà xuất bản Media Factory
Đối tượng Seinen
Tạp chí Monthly Comic Alive
Phát hành Tháng 4 năm 2008Tháng 8 năm 2013
Số tập 10
TV anime
Đạo diễn Kuroda Yasuhiro
Hãng phim Nomad
Cấp phép Canada Hoa Kỳ Sentai Filmworks
Kênh TBS, BS-TBS, Sun TV
Phát sóng Ngày 02 tháng 10 năm 2009Ngày 17 tháng 12 năm 2009
Số tập 12
TV anime
Kämpfer für die Liebe
Đạo diễn Kuroda Yasuhiro
Hãng phim Nomad
Phát sóng Ngày 06 tháng 3 năm 2011Ngày 06 tháng 3 năm 2011
Số tập 2
Biểu tượng chủ đề Chủ đề Anime và Manga

Kämpfer (けんぷファー Kenpufā) là bộ light novel được viết bởi Tsukiji Toshihiko và minh họa bởi Senmu. Bộ tiểu thuyết này gồm 15 tập do Media Factory phát hành thông qua nhà xuất bản MF Bunko J của họ từ tháng 11 năm 2006 đến tháng 3 năm 2010. Cốt truyện xoay quanh anh chàng học sinh trung học Senō Natsuru vào một buổi sáng khi thức dậy lại trở thành một cô gái và bị bắt phải chiến đấu trong một cuộc chiến giữa các Kämpfer mà anh không thích tham gia.

Bộ tiểu thuyết còn được chuyển thể thành manga do Tachibana Yu thực hiện và đăng trên tạp chí Monthly Comic Alive của Media Factory từ tháng 4 năm 2008. Sau đó tập hợp lại thành các tankōbon. Nomad cũng đã thực hiện chuyển thể anime và phát sóng tại Nhật Bản từ ngày 02 tháng 10 đến ngày 17 tháng 12 năm 2009 trên kênh TBS với 12, hai tập thêm có tựa Kämpfer für die Liebe cũng được thực hiện và chiếu tại các rạp Nhật Bản ngày 06 tháng 3 năm 2010 và sau đó chiếu trên truyền hình ngày 31 tháng 3 năm 2010.

Sơ lược cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Truyền thông[sửa | sửa mã nguồn]

Light novel[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ light novel được viết bởi Tsukiji Toshihiko và minh họa bởi Senmu. Bộ tiểu thuyết này gồm 15 tập do Media Factory phát hành thông qua nhà xuất bản MF Bunko J của họ từ tháng 11 năm 2006 đến tháng 3 năm 2010. Cốt truyện chính dài 12 tập, 3 tập còn lại là tổng hợp các mẫu truyện nhỏ. Sharp Point Press đã đăng ký bản quyền để phát hành loạt tiểu thuyết nàu tại Đài Loan.

Manga[sửa | sửa mã nguồn]

Tachibana Yu đã thực hiện chuyển thể manga và đăng trên tạp chí Monthly Comic Alive của Media Factory từ tháng 4 năm 2008 đến tháng 8 năm 2013. Sau đó tập hợp lại thành 10 tankōbon. Tokyopop giữ bản quyền phiên bản tiếng Anh của loạt manga để phát hành tại thị trường Bắc Mỹ còn Sharp Point Press đăng ký tại Đài Loan.

Anime[sửa | sửa mã nguồn]

Nomad cũng đã thực hiện chuyển thể anime và phát sóng tại Nhật Bản từ ngày 02 tháng 10 đến ngày 17 tháng 12 năm 2009 trên kênh TBS với 12 tập. Sentai Filmworks đã đăng ký bản quyền phiên bản lồng tiếng Anh của bộ anime tại thị trường Bắc Mỹ. Nhà phân phối Section23 Films đã phát hành bộ hộp DVD chứa toàn bộ các tập anime vào ngày 18 tháng 1 năm 2011.

Hai tập thêm có tựa Kämpfer für die Liebe cũng được thực hiện và chiếu tại các rạp ở Nhật Bản ngày 06 tháng 3 năm 2010 và sau chiếu trên truyền hình ngày 31 tháng 3 năm 2010.

Internet Radio[sửa | sửa mã nguồn]

Một chương trình phát thanh trên mạng có tên Radio Kämpfer Kenji to ai no Wakuwaku Zoumotsu Land (ラジオ けんぷファー 賢二と愛のわくわく臓物ランド) hỗ trợ cho bộ anime đã phát sóng trên một kênh của TBS là Wakuwaku Doubutsu Land (わくわく動物ランド) từ ngày 04 tháng 9 đến ngày 25 tháng 12 năm 2009 với 17 chương trình. Người dẫn chương trình chính là thú nhồi bông mang hình con sư tử bị thiêu sống các nhân vật sẽ lần lượt xuất hiện ở các chương trình sao cho tương thích với anime.

Drama CD[sửa | sửa mã nguồn]

Lantis đã phát hành một đĩa drama CD của phiên bản anime vào ngày 10 tháng 3 năm 2010.

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Bộ anime có hai bài hát chủ đề, một mở đầu và một kết thúc. bài hát mở đầu có tên Unreal Paradise (あんりある□パラダイス) do Kuribayashi Minami trình bày, đĩa đơn chứa bài hát đã phát hành vào ngày 21 tháng 10 năm 2009. Bài hát kết thúc có tên One Way Ryou Omoi (ワンウェイ両想い) do Inoue Marina và Nakajima Megumi trình bày, đĩa đơn chứa bài hát đã phát hành vào ngày 11 tháng 11 năm 2009. Album chứa các bản nhạc dùng trong bộ anime đã phát hành vào ngày 13 tháng 1 năm 2010. Album chứa các bài hát do các nhân vật trình bày đã phát hành vào ngày 27 tháng 1 năm 2010.

Hai tập thêm có chung hai bài hát chủ đề mở đầu và kết thúc. Bài hát mở đầu có tên Choose my love! do Kuribayashi Minami trình bày, bài hát kết thúc có tên Mousou Shoujo A (妄想少女A) do Horie Yui và Tamura Yukari trình bày. Đĩa đơn chứa hai bài hát đã phát hành vào ngày 20 tháng 4 năm 2011.

Đón nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]