Mizuki Nana

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đây là một tên người Nhật; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Mizuki. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp tên người Nhật hiện đại khi viết bằng ký tự La Tinh thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau).
Mizuki Nana
水樹 奈々
Tên khai sinh 近藤 奈々 (Kondō Nana)
Nghệ danh Nana-chan
Sinh 21 tháng 1, 1980 (34 tuổi)
Niihama, Ehime, Nhật Bản
Nguyên quán Niihama, Ehime, Nhật Bản
Nghề nghiệp Ca sĩ, seiyū
Thể loại J-pop, power pop, pop rock
Nhạc cụ Vocals
Năm 1998 - nay
Hãng đĩa King Records
Website www.mizukinana.jp

Mizuki Nana (水樹 奈々 (Thủy Thụ Nại Nại)? sinh 21 tháng 1, 1980 tại Niihama, Ehime), tên khai sinh là Kondō Nana (近藤 奈々? Cận Đằng Nại Nại), là một ca sĩ, seiyū rất nổi tiếng người Nhật Bản.[1] Sinh ra và lớn lên ở Niihama, Ehime, Nhật Bản, từ nhỏ Mizuki đã được đào tạo hát nhạc enka. Tuy vậy, sự nghiệp lồng tiếng của cô lại bắt đầu trước (1998). Phải 2 năm sau, đĩa đơn đầu tiên mang tên "Omoi" mới được ra mắt với sự hỗ trợ sản xuất của hãng King Records vào tháng 12 năm 2000. Tháng 12 năm 2001, album đầu tay Supersonic Girl của cô chính thức đến tay khán thính giả.[2]

Trong vài năm tiếp theo đó, con đường ca hát của Mizuki chỉ có được những thành công khiêm tốn. Sau khi đĩa đơn "Innocent Starter" lọt vào top 10 của bảng xếp hạng Oricon danh tiếng,[3] các sản phẩm âm nhạc của Mizuki bắt đầu đạt được những cột mốc cao hơn, dần dần đưa cô trở thành một trong những ca sĩ có tiếng của Nhật Bản. Không những thế, sự nghiệp lồng tiếng của cô vẫn nở hoa với số lượng vai diễn lên đến 130.[4] Ngày 3 tháng 6 năm 2009, album Ultimate Diamond đã đứng đầu bảng xếp hạng Oricon;[5] và đĩa đơn "Phantom Minds", phát hành ngày 13 tháng 1 năm 2010, cũng xếp hạng 1,[6] củng cố vững chắc vị trí của Mizuki trong hàng ngũ những nghệ sĩ có vị trí xếp hạng cao nhất Nhật Bản. Thành công này còn giúp cô lập kỉ lục là seiyū đầu tiên trong lịch sử của Oricon từ năm 1968 đến nay giành được vị trí số 1 trong bảng xếp hạng album và đĩa đơn theo tuần.[6][7]

Đầu năm 2011, Mizuki Nana tung ra hai đĩa đơn "Scarlet Knight" và "Pop Master" trong cùng một ngày. Một tuần sau đó, hai đĩa đơn này đã leo lên top 3 bảng xếp hạng Oricon, với "Scarlet Knight" đoạt vị trí á quân và "Pop Master" đứng liền kề ngay sau đó. Theo Oricon, Mizuki Nana là một trong số rất ít những nữ nghệ sĩ sở hữu thành tích hiếm có này. Lần gần nhất trước đó là hiện tượng hai đĩa đơn của Ayumi Hamasaki năm 1999 [8].

Cuộc đời và sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Sinh tại Niihama, Ehime, Nhật Bản, Mizuki được dạy hát enka từ khi mới 5 tuổi.[9] Năm 1993, cô phát hành đĩa đơn dạng cassette "Tsugazakura" (つがざくら lit. "Phyllodoce Nipponica"?) dưới cái tên thật "Nana Kondo".[10] Một thời gian sau đó, cô chiến thắng trong cuộc thử giọng cho game Noël: La Neige và bắt đầu trở thành seiyū.[9]

Mizuki đã giành giải "Trình bày ca khúc xuất sắc nhất" với bài hát "Justice to Believe" trong giải thưởng Seiyū thường niên đầu tiên năm 2007. Với album thứ 7 "Ultimate Diamond" giành vị trí quán quân trên bảng xếp hạng Oricon tuần (tổng kết ngày 15 tháng 6, 2009), cô őã trở thành seiyū đầu tiên đạt danh hiệu này kể từ khi Oricon ra đời năm 1968 [11] Ultimate Diamond đã bán được trên 74,000 bản trong tuần đầu ra mắt, hơn đối thủ nặng kí là album The E.N.D. của ban nhạc hip-hop nổi tiếng thế giới The Black Eyed Peas 20,000 bản.[5] Đĩa đơn thứ 21 "Phantom Minds" của cô cũng đạt được vị trí cao nhất của Oricon vào ngày 25 tháng 1, 2010, trở thành đĩa đơn của một ca sĩ seiyū đầu tiên đạt danh hiệu này.

Danh tiếng của Mizuki Nana càng được khẳng định khi vào ngày 23 tháng 11 năm 2009, đài truyền hình NHK chính thức thông báo cô sẽ tham gia vào chương trình biểu diễn NHK Kōhaku Uta Gassen (Cuộc Chiến Hồng Bạch) trong đêm giao thừa. Đây là lần đầu tiên Mizuki được xuất hiện trong buổi biểu diễn thường niên danh tiếng này. Cô đã chọn trình bày ca khúc "Shin'ai".[12][13]

Giữa tháng 2 năm 2010, Mizuki vinh dự được trở thành đại sứ du lịch đầu tiên cho quê hương Niihama, Ehime của mình. Tin này đã được phát trong suốt tour diễn Live Academy 2010 của cô, được tổ chức ở Kanagawa, Osaka, Aichi, Miyagi, Fukuoka, và trung tâm văn hóa Niihama tỉnh Ehime. 7 phần phim tài liệu về các hoạt động nói trên của Mizuki đã được ghi lại và phát hành trong DVD kèm với album thứ 8 của cô, Impact Exciter.[14]

Tại giải thưởng Seiyu thường niên lần thứ 4 tổ chức năm 2010, Mizuki đã giành giải thưởng Tomiyama Kei vì những thành công rực rỡ trong năm 2009.

Trong hai ngày 3 và 4 tháng 12 năm 2011, Mizuki liên tiếp tổ chức hai đêm diễn "Nana Mizuki Live Castle 2011 Queen's Night & King's Night" tại Tokyo Dome. Cô là seiyuu đầu tiên và nữ nghệ sĩ solo thứ 8 có buổi diễn riêng tại sân vận động nổi tiếng này.

Danh sách đĩa hát[sửa | sửa mã nguồn]

Album[sửa | sửa mã nguồn]

Album nguyên bản[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Chi tiết Vị trí trên Oricon Doanh số
và chứng nhận
2001 Supersonic Girl
  • Phát hành: 5 tháng 12, 2001
  • Hãng đĩa: King (KICS-931)
60[2] 5,090
2002 Magic Attraction
  • Phát hành: 6 tháng 11, 2002
  • Hãng đĩa: King (KICS-979)
21[15] 22,051
2003 Dream Skipper
  • Phát hành: 27 tháng 11, 2003
  • Hãng đĩa: King (KICS-1043)
25[16] 19,518
2004 Alive & Kicking
  • Phát hành: 8 tháng 12, 2004
  • Hãng đĩa: King (KICS-1125)
17[17] 32,890
2006 Hybrid Universe
  • Phát hành: 3 tháng 5, 2006
  • Hãng đĩa: King (KIZC-1–2)
3[18] 51,430
2007 Great Activity
  • Phát hành: 14 tháng 11, 2007
  • Hãng đĩa: King (KICS-1339, KICS-91339)
2[19] 66,634
2009 Ultimate Diamond
  • Phát hành: 3 tháng 6, 2009
  • Hãng đĩa: King (KICS-1470, KICS-91470)
1[20] 104,902

(Đĩa vàng)[21]

2010 Impact Exciter
  • Phát hành: 7 tháng 7, 2010
  • Hãng đĩa: King (KICS-1564, KICS-91564)
2[22] 126,175

(Đĩa vàng)[23]

2012 Rockbound Neighbors
  • Phát hành: 12 tháng 12, 2012
  • Hãng đĩa: King (KICS-1847, KICS-91847, KICS-91848)
2[24] 139,004

(Đĩa vàng)[25]

2014 Supernal Liberty
  • Phát hành: 16 tháng 4, 2014
  • Hãng đĩa: King (KICS-3036, KICS-93037, KICS-93036)
1[26] 76,144

Album tổng hợp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Album Vị trí trên Oricon Doanh số
và chứng nhận
2007 The Museum
  • Phát hành: 7 tháng 2, 2007
  • Hãng đĩa: King (KIZC-3–4)
5[27] 65,010

(Đĩa vàng)[28]

2011 The Museum II
  • Phát hành: 23 tháng 11, 2011
  • Hãng đĩa: King (KIMC - 141-142)
3 [29] 129,070

(Đĩa vàng)

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đĩa đơn Vị trí trên Oricon Doanh số
và chứng nhận
Nằm trong album
2000 "Omoi" Supersonic Girl
2001 "Heaven Knows"
"The Place of Happiness"
2002 "Love & History" 49[30] 5,620 Magic Attraction
"Power Gate" 50[31] 2,430
"Suddenly: Meguriaete / Brilliant Star" 20[32] 13,780
2003 "New Sensation" 20[33] 13,673 Dream Skipper
"Still In the Groove" 17[34] 16,105
2004 "Panorama" 14[35] 14,300 Alive & Kicking
"Innocent Starter" 9[3] 25,307
2005 "Wild Eyes" 13[36] 20,997 Hybrid Universe
"Eternal Blaze" 2[37] 48,336
2006 "Super Generation" 6[2] 31,545
"Justice to Believe / Aoi Iro" 4[38] 41,274 The Museum
Great Activity[A]
2007 "Secret Ambition" 2[39] 75,256 Great Activity
"Massive Wonders" 4[40] 60,664
2008 "Starcamp EP" 5[41] 58,175 Ultimate Diamond
"Trickster" 2[42] 82,297

(Đĩa vàng)[43]

2009 "Shin'ai" 2[44] 62,204
"Mugen" 3[45] 64,989 Impact Exciter
2010 "Phantom Minds" 1[46] 94,369
(Đĩa vàng)
"Silent Bible" 3[47] 72,062
2011 "Scarlet Knight" 2[48] 87,209
(Đĩa vàng)
The Museum II
"Pop Master" 3[49] 73,609
"Junketsu Paradox" 3[50] 72,746
2012 "Synchrogazer" 2[51] 79,505 Rockbound Neighbors
"Time Space EP" 3[52] 71,843
"Bright Stream" 2[53] 102,924
(Đĩa vàng)
2013 "Vitalization" 3[54] 81,793 Supernal Liberty
"—" là các phát hành không được xếp hạng hoặc chưa được ra mắt.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Doi, Hitoshi. "Mizuki Nana". Seiyuu Database. 12 tháng 7, 2010. Archived by WebCite 12 tháng 7, 2010.
  2. ^ a ă â “Supersonic Girl” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập 12 tháng 11, 2009. 
  3. ^ a ă “Innocent Starter” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập 12 tháng 11, 2009. 
  4. ^ “Hồ sơ Mizuki Nana tại ANN” (bằng tiếng Nhật). Anime News Network. Truy cập 12 tháng 11, 2009. 
  5. ^ a ă (tiếng Nhật) “Oricon Weekly Album Charts for the third week of June 2009”. Oricon. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2009. 
  6. ^ a ă (tiếng Nhật) “紅白初出場の水樹奈々、デビュー10年目で声優史上初のシングル首位「感謝の気持ちでいっぱい」”. Oricon. 19 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2010. 
  7. ^ ,“Mizuki Nana là seiyū đầu tiên đạt được #1 Album tại bảng xếp hạng tuần”. Anime News Network. 8 tháng 6, 2009. Truy cập 12 tháng 11, 2009. 
  8. ^ “Nana Mizuki Puts 2 Singles in Top 3 Simultaneously”. ANN. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2011. 
  9. ^ a ă (tiếng Nhật) “才色兼備の声優シンガーはオリコン2位!アニメ界を牽引する水樹奈々を直撃!”. Nikkei Business Publications. 10 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2009. 
  10. ^ (tiếng Nhật) “Tsugazakura”. Ichimiya Group. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2009. 
  11. ^ (tiếng Nhật) “デビュー9年目の水樹奈々、声優史上初の首位獲得に「夢のような出来事」”. Oricon. 9 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2009. 
  12. ^ (tiếng Nhật) “嵐・木村カエラ・水樹奈々らが初出場 紅白歌合戦”. Asahi Shimbun. 23 tháng 11 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 11 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2009.  [[]][liên kết hỏng]
  13. ^ "第60回NHK紅白歌合戦:出場歌手" (Japanese), NHK, http://archive.is/20121204165628/www9.nhk.or.jp/kouhaku/artists/index.html (accessed January 29, 2010).
  14. ^ "水樹奈々が出身地・愛媛県新居浜市のふるさと観光大使に!" (tiếng Nhật). newAkiba.com. February 16, 2010. Retrieved February 22, 2010.
  15. ^ “Magic Attraction” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. 
  16. ^ “Dream Skipper” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. 
  17. ^ “Alive & Kicking” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. 
  18. ^ “Hybrid Universe” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. 
  19. ^ “Great Activity” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. 
  20. ^ “Ultimate Diamond” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. 
  21. ^ “ゴールド等認定作品一覧 2009年6月” [Gold etc. Certified Works at a Glance June 2009] (bằng tiếng Nhật). Recording Industry Association of Japan. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. 
  22. ^ “Impact Exciter” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2010. 
  23. ^ “ゴールド等認定作品一覧 2010年08月” [Gold etc. Certified Works at a Glance August 2010] (bằng tiếng Nhật). Recording Industry Association of Japan. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2010. 
  24. ^ “Rockbound Neighbors” (bằng Tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2012. 
  25. ^ “ゴールド等認定作品一覧 2012年12月” [Gold etc. Certified Works Summary December 2012] (bằng tiếng Nhật). Recording Industry Association of Japan. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2013. 
  26. ^ “Supernal Liberty” (bằng Tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2014. 
  27. ^ “The Museum” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. 
  28. ^ “ゴールド等認定作品一覧 2008年8月” [Gold etc. Certified Works at a Glance August 2008] (bằng tiếng Nhật). Recording Industry Association of Japan. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. 
  29. ^ “The Museum II” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2011. 
  30. ^ “Love & History” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. 
  31. ^ “Power Gate” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. 
  32. ^ “Suddenly 〜巡り合えて〜 / Brilliant Star” [Suddenly: Meguriaete / Brilliant Star] (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. 
  33. ^ “New Sensation” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. 
  34. ^ “Still In the Groove” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. 
  35. ^ “パノラマ-Panorama-” [Panorama] (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. 
  36. ^ “Wild Eyes” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. 
  37. ^ “Eternal Blaze” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. 
  38. ^ “Justice to Believe / アオイイロ” [Justice to Believe / Aoi Iro] (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. 
  39. ^ “Secret Ambition” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. 
  40. ^ “Massive Wonders” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. 
  41. ^ “Starcamp EP” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. 
  42. ^ “Trickster” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. 
  43. ^ “ゴールド等認定作品一覧 2008年10月” [Gold etc. Certified Works at a Glance October 2008] (bằng tiếng Nhật). Recording Industry Association of Japan. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. 
  44. ^ “深愛” [Shin Ai] (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. 
  45. ^ “夢幻” [Mugen] (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 11 tháng 11 năm 2009. 
  46. ^ “Phantom Minds” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2010. 
  47. ^ “Silent Bible” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2010. 
  48. ^ “Scarlet Knight” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2011. 
  49. ^ “Pop Master” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2011. 
  50. ^ “Junketsu Paradox” (bằng Tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2011. 
  51. ^ “Synchrogazer” (bằng Tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2012. 
  52. ^ “Time Space EP” (bằng Tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 9 tháng 4 năm 2012. 
  53. ^ “Bright Stream” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2012. 
  54. ^ “Vitalization” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]