Horie Yui

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đây là một tên người Nhật; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Horie. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp tên người Nhật hiện đại khi viết bằng ký tự La Tinh thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau).
Horie Yui (Nhật: 堀江 由衣?)
Tên khai sinh 堀江 由子 (Horie Yoshiko, Quật Giang Do Tử)
Sinh 20 tháng 9, 1976 (37 tuổi)
Flag of Japan (bordered).svg Tokyo, Nhật Bản
Tên khác Hocchan (Nhật: ほっちゃん Hocchan?), YUIEL
Nghề nghiệp Seiyū, ca sĩ
Hoạt động 1997–Hiện nay
Vai diễn đáng chú ý Naru Narusegawa trong Love Hina
Tohru Honda trong Fruits Basket
Eri Sawachika trong School Rumble
Yuki Cross trong Vampire Knight
Trang web http://www.starchild.co.jp/artist/horie/

Horie Yui (Nhật: 堀江 由衣 Horie Yui?, Quật Giang Do Y), sinh ngày 20 tháng Chín, 1976 là một seiyū kiêm ca sĩ nổi tiếng người Nhật Bản. Tên thật của cô là Horie Yoshiko (Nhật: 堀江 由子 Horie Yoshiko?, Quật Giang Do Tử). Các fan của Horie thường gọi cô thân mật là "Hocchan" (Nhật: ほっちゃん?).

Hiện nay Horie dẫn một chương trình phát thanh rất được ưa thích của riêng cô, "Horie Yui no Tenshi no Tamago" (Nhật: 堀江由衣の天使のたまご "Những quả trứng thần của Yui Horie"?). Năm 2007, cô cũng tham gia làm thành viên của nhóm nhạc Kurobara Hozonkai (một band Goth) dưới nghệ danh YUIEL.

Bắt đầu hoạt động trong lĩnh vực lồng tiếng từ 1997, đến năm 2000, Yui Horie nhận được vai diễn chính đầu tiên Naru Narusegawa trong anime ăn khách Love Hina. Tiếp đó vào năm 2001 là vai Tohru Honda trong Fruits Basket lừng danh. Cũng trong năm 2000, Horie cho ra đời album đầu tay "Mizutamari ni Utsuru Sekai". Với vai diễn Tohru Honda, Horie chính thức trở thành một trong những seiyū nổi tiếng nhất Nhật Bản.

Cô đã làm việc rất nhiều năm với công ty chuyên quản lý seiyū Arts Vision cho đến giữa 2007 thì buộc phải dừng lại bởi một vụ scandal trong ban quản lý của công ty. Giờ đây Horie là seiyū tự do.[1]

Vai lồng tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Vai chính được in đậm.

Anime/Video Games[sửa | sửa mã nguồn]

1997
1998
1999
2000
2001
2002
2003
2004

Re: Cutie Honey (Kisaragi Honey)

2005
2006
2007
2008
2009
2010
2011
2012

Drama CD[sửa | sửa mã nguồn]


Vai dub[sửa | sửa mã nguồn]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Studio Albums[sửa | sửa mã nguồn]

Album tổng hợp[sửa | sửa mã nguồn]

Singles/maxis[sửa | sửa mã nguồn]

  • My Best Friend (18.11.1998)
  • brand-new コミュニケイション (17.3.1999)
  • Eternal Fantasy 3 Perpetual Blue (Nhật: 悠久幻想曲3パーペチュアルブルー Yūkyū Gensōkyoku 3 Pāpechuaru Burū?) Maxi Single Collection Part.6 (2000)
  • Merry Merrily (Yamato Nadeshiko) (21.3.2001)
  • Love Destiny (May 16, 2001)
  • Kirari Takaramono (Nhật: キラリ☆宝物?) (February 28, 2002)
  • All My Love (July 24, 2002)
  • Kokoro Harete Yo mo Akete (Nhật: 心晴れて 夜も明けて?) (February 4, 2004)
  • Scramble (Yui Horie with UNSCANDAL) (October 27, 2004)
  • Hikari (Inukami! Opening Theme) (May 24, 2006)
  • Days (Gồm cả theme của Nagasarete Airantō) (May 2, 2007) [2]
  • Koisuru Tenkizu (Nhật: 恋する天気図?) (Bao gồm cả ED cho nửa sau của Nagasarete Airantō) (August 17, 2007)
  • Vanilla Salt (Toradora! Ending 1) (October 22, 2008)
  • Silky Heart (Toradora! Opening 2) (January 28, 2009)
  • YAHHO!! (Kanamemo Ending) (26 August 2009)
  • True Truly Love (September 2010)
  • Immoralist (Dragon Crisis! Opening) (2 February 2011)
  • PRESENTER (Dog Days (anime) Ending) (25 May 2011)
  • Coloring (Listen to Me, Girls. I Am Your Father! Ending) (18.1.2012)

DVDs[sửa | sửa mã nguồn]

  • CLIPS 1 — gồm một vài video trực tiếp, gồm có:
    • Sakura - video đầu tiên trong album đầu tay, 水たまりに映るセカイ (Mizutamari ni Utsuru Sekai)
    • Love Destiny - phần của video có thể thấy ở OP của Sister Princess
    • Kirari Takaramono - là bài hát trong OP của Love Hina Again
    • All My Love - là bài hát trong OP của Earth Defender Mao-chan
    • Kokoro Harete Yo mo Akete - là bài hát trong ED của Jubei-chan 2
  • LIVE DVD 2006 - The Adventure Over Yui Horie (Nhật: 堀江由衣をめぐる冒険 Horie Yui o Meguru Bōken?)
  • LIVE DVD 2007 - Horie Yui Christmas Live (Nhật: 堀江由衣 クリスマスライブ~由衣がサンタに着がえたら Yui Ga Ni Santa Kigaetara?)
  • CLIPS 2
  • LIVE DVD 2009 - The Adventure Over Yui Horie II

Blu-ray[sửa | sửa mã nguồn]

  • CLIPS 2 - gồm có một vài video trực tiếp

Các ca khúc có liên quan tới anime[sửa | sửa mã nguồn]

Quan hệ với các diễn viên khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cô lồng giọng cùng với Yukari Tamura trong nhiều anime. Năm 2001, hai người lập một đơn vị gọi là Yamato Nadeshiko và cho ra hai single.
    • Trong Higurashi no Naku Koro ni Kai, cùng với Tamura trong vai Furude Rika và Horie trong vai Hanyuu
    • Trong Kanon, cùng với Tamura trong vai Kawasumi Mai và Horie trong vai Tsukimiya Ayu
    • Trong Kashimashi: Girl Meets Girl, cùng với Tamura trong vai Tomari Kurusu và Horie trong vai Yasuna Kamiizumi
    • Trong Idolmaster: Xenoglossia, cùng với Tamura trong vai Iori Minase và Horie trong vai Yukiho Hagiwara
    • Trong D.C.: Da Capo, cùng với Tamura trong vai Sakura Yoshino và Horie trong vai Kotori Shirakawa
    • Trong D.C. II: Da Capo II, cùng với Tamura trong vai Sakura Yoshino và Horie trong vai Yume Asakura
    • Trong Rumble Roses XX, cùng với Tamura trong vai Lambda và Horie trong vai Makoto Aihara
    • Trong Umineko no Naku Koro ni, cùng với Tamura trong vai Bernkastel và Horie trong vai Maria Ushiromiya
    • Trong Kämpfer, cùng với Tamura trong vai Suicidal Black Rabbit và Horie trong vai Mishima Akane
    • Trong B Gata H Kei, cùng với Tamura trong vai Yamada và Horie trong vai Takeshita
    • Trong Ben-To, cùng với Tamura trong vai Sawagi Kyou (chị) và Horie trong vai Sawagi Kyou (em)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ (tiếng Nhật) “アーツビジョン事件を受けて堀江由衣が事務所を辞めたとの噂”. NewAkiba.com. 10 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2007. 
  2. ^ Related article on the single (Japanese Wikipedia)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]