Mần trầu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Eleusine indica
Eleusine indica, closeup.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Monocots
(không phân hạng) Commelinids
Bộ (ordo) Poales
Họ (familia) Poaceae
Tông (tribus) Eragrostideae
Chi (genus) Eleusine
Loài (species) E. indica
Danh pháp hai phần
Eleusine indica
(L.) Gaertn.

Mần trầu hay cỏ vườn trầu, màn trầu, màng trầu, thanh tâm thảo, cỏ chỉ tía, ngưu cân thảo (danh pháp: Eleusine indica) là loài thực vật xâm thực thuộc họ Hòa thảo Poaceae. Đây là loài phân bố ở các vùng khí hậu ấm từ vĩ độ 50 trở lên.

Miêu tả[sửa | sửa mã nguồn]

Mần trầu là cây hàng năm, cao từ 20 cm đến 90 cm, thân bò dài ở gốc, có phân nhánh, sau đó mọc thẳng thành bụi. Lá mần trầu hình dải nhọn, mọc so le. Cụm hoa là bông xẻ ngọn, có từ 5 đến 7 nhánh dài mọc toả tròn đều ở đầu cuống chung, có thêm từ 1 đến 2 nhánh xếp thấp hơn ở dưới. Quả thuôn dài[1].

Thành phần hóa học[sửa | sửa mã nguồn]

Phần cây trên mặt đất có chứa dẫn chất của bê ta sitosterol và palmitoyl, cành và lá tươi có flavonoid[1].

Làm dược liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Theo đông y, mần trầu có vị ngọt hơi đắng, tính bình, có tác dụng hạ nhiệt, làm ra mồ hôi, tiêu viêm trừ thấp, cầm máu, tán ứ và mát gan[1].

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Cỏ mần trầu. Báo Sức khỏe và đời sống điện tử. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2011.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]