Mụn trứng cá

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mụn trứng cá
Phân loại và tư liệu bên ngoài
ICD-10 L70
ICD-9 706.0-706.1
MeSH D000152

Mụn trứng cá là bệnh da thông thường gây ra do tăng tiết chất bã và viêm hệ thống nang lông tuyến bã, sự karatin hóa nang, sự nhiễm khuẩn Propionnobacterium acnes và viêm phu khú. Biểu hiện của bệnh là nhiều loại tổn thương khác nhau như mụn cám, sẩn, viêm, mụn mủ, mụn bọc, nang.… khu trú ở các vị trí tiết nhiều chất nhờn như mặt, lưng, ngực.

Mụn trứng cá không ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, tuy nhiên, do tồn tại dai dẳng, mụn sẩn hay sẹo lồi, sẹo lõm ở vùng mặt, làm giảm tính thẩm mỹ nên ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống của người bệnh.

Bệnh có ba dạng là trứng cá nhẹ, trứng cá vừa và trứng cá nặng.

Trứng cá thể thông thường[sửa | sửa mã nguồn]

Là hình thái thường gặp nhất. Tổn thương rất đa dạng:

  • Bắt đầu từ tuổi dậy thì, người bệnh có hiện tượng tăng tiết bã nhờn như da mỡ, nhờn, trơn bóng, tóc nhờn, lỗ chân lông giãn rộng
  • Trên nền da nhờn xuất hiện các tổn thương nhân trứng cá (comedon) hay mụn đầu đen (point noir) do chất bã bài tiết và tế bào biểu mô cô đặc lại mà thành

Các thể lâm sàng trứng cá nặng[sửa | sửa mã nguồn]

Các thể lâm sàng khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trứng cá trẻ sơ sinh
  • Trứng cá bội nhiễm
  • Trứng cá do thuốc
  • Trứng cá do hóa chất
  • Trứng cá đỏ
  • Mũi cà chua

Triệu chứng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trứng cá nhẹ: có đầu đen (đầu trứng cá hở, nhân tiếp xúc với không khí và bị chuyển màu thành đen) và đầu trắng (đầu trứng cá có màng bao bọc, không tiếp xúc với môi trườn ngoài), kèm một số nốt sần và nốt có mủ. Trứng cá nhẹ thường tự hết trong vòng 1-2 tuần, không để lại sẹo mà không cần phải dùng thuốc
  • Trứng cá vừa: nốt sần màu đỏ, hơi đau, nốt có mủ nhiều hơn, và có tạo sẹo nhỏ, diễn tiến dai dẳng, có những đợt thoái lui. Dễ tái phát khi sử dụng các chất kích thích: Rượu, bia, thuốc lá... hoặc phát triển và thoái triển theo chu kỳ kinh nguyệt (ở nữ gới)
  • Trứng cá nặng: có các cục nhỏ có viêm, đau nhiều, có phù nề, và nốt sần, nốt có mủ rất nhiều, có thể gây sẹo lớn

Điều trị[sửa | sửa mã nguồn]

Việc điều trị nhằm giảm quần thể vi khuẩn trong nang lông, giảm sinh bã nhờn, giảm viêm, loại bỏ lớp keratin che lấp nang. Các thuốc dùng gồm có các chất ly giải keratin và chất kháng khuẩn. Khi thuốc bôi ngoài không có tác dụng, cần dùng thuốc uống, đáp ứng với thuốc thường chậm và phải điều trị lâu dài. Kinh nghiệm điều trị: Trong thời gian điều trị bệnh, bệnh nhân tuyệt đối không được sờ hay nặn mụn gây viêm nhiễm lan rộng (bội nhiễm) gây ảnh hưởng đến kết quả điều trị.

  • Trứng cá nhẹ: Dùng thuốc bôi ngoài, đặc biệt là benzoyl peroxid, chất kháng khuẩn và retinoid. Acid azelaic có thể dùng thay thế benzoyl peroxid. Khi phối hợp retinoid với kháng sinh erythromycin (trong Phil Efasol) sẽ hiệp đồng tác dụng, nhanh chóng cho hiệu quả điều trị

Các thuốc kháng khuẩn bôi ngoài cũng là thuốc đầu tiên dùng đến sau khi liệu pháp benzoyl peroxid không hiệu quả, dùng các dung dịch tetracylin, clindamycin, erthromycin (Efasol) để bôi ngoài, và các chất này có tác dụng tương đương nhau. Dùng thuốc kháng khuẩn bôi ngoài chỉ nên kéo dài 10 đến 12 tuần, không dùng đồng thời thuốc bôi ngoài với thuốc uống hay loại nọ kế tiếp loại kia

  • Trứng cá vừa: Dùng thuốc kháng khuẩn đường uống là tốt nhất, kết hợp với thuốc bôi ngoài. Thuốc được lựa chọn đầu tiên là Efasol (retinoid kết hợp với erthromycin),doxycylin, oxytetracylin. Còn Minocylin cũng được dùng nhưng làm da sẫm màu. Tất cả các thuốc kháng khuẩn được dùng ít nhất trong 3 tháng, có những trường hợp phải điều trị tới 2 năm hay lâu hơn nữa. Đối với các bệnh nhân nữ có trứng cá vừa nhưng phải dùng thuốc tránh thai, thì nên dùng thuốc tránh thai chứa một progrestogen không androgen nhưng cần hết sức lưu ý tác dụng phụ khi dùng đường uống kéo dài.
  • Trứng cá nặng: Thường dùng inotretionin theo đường uống, nếu những bệnh nhân không dùng được loại thuốc này có thể dùng thuốc kháng khuẩn với liều cao. Đối với những bệnh nhân nữ chống chỉ định dùng estrogen có thể dùng spironolacton, dựa vào tính kháng androgen của nó, kết hợp dùng thuốc bôi ngoài trứng cá nhẹ (Efasol)

Tiến triển chung của trứng cá[sửa | sửa mã nguồn]

Đa số tự khỏi. Một số trường hợp có thể kèm theo các rối loạn như nhiễm trùng, trứng cá đỏ, viêm tổ chức dưới da. Nếu tổn thương mọc quanh miệng mũi, có mủ, khi nặn không vô khuẩn có thể gây nhiễm khuẩn huyết, viêm xoang tĩnh mạch nông

Cơ chế bệnh sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Mụn trứng cá được hình thành dưới tác động của 3 yếu tố chính. Đó là:

Tăng tiết chất bã[sửa | sửa mã nguồn]

Bình thường chất bã được nang lông tuyến bã tiết ra làm da, lông, tóc ẩm, mềm mại, mượt mà. Trong trứng cá, do nội tiết tố androgen của cơ thể, đặc biệt là testosteron tiết ra nhiều sẽ gắn vào các thụ thể đặc hiệu có trên bề mặt các tế bào tuyến bã, kích thích tuyến bã phát triển, giãn rộng làm tăng bài tiết chất bã.

Sừng hóa cổ nang lông[sửa | sửa mã nguồn]

Bình thường các tế bào của tuyến bã và cổ nang lông khi chết sẽ được đào thải ra ngoài qua cổ nang lông. Trong trứng cá, các tế bào này không được đào thải sẽ gây bít tắc cổ nang lông làm chất nhờn tích tụ lại và làm phình tuyến bã

Sự gia tăng hoạt động của Vi khuẩn Propionibacterium anes (P.aces)[sửa | sửa mã nguồn]

P.acnes hiện diện rất nhiều trên da của bệnh nhân trứng cá. Các vi khuẩn này sẽ chuyển hóa các acid béo tự do có trong tế bào và chất nhờn bị tích tụ làm viêm tấy nang lông và cổ nang lông tạo nên mụn trứng cá dạng sẩn, mụn mủ, cục và nang.

Một số yếu tố khác liên quan đến hình thành mụn trứng cá[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tuổi: 90% trường hợp ở lứa tuổi 13-19, sau đó bệnh giảm dần. Nhưng trứng cá có thể bắt đầu ở tuổi 20-30 hoặc thậm chí muộn hơn ở tuổi 50-59
  • Giới: Nữ nhiều hơn nam, tỷ lệ nữ/nam ≈2/1, nhưng bệnh ở nam giới thường nặng hơn nữ
  • Yếu tố gia đình: cứ 100 bệnh nhân bị trứng cá thì 50% có tiền sử gia đình
  • Yếu tố thời tiết, chủng tộc: khí hậu nóng ẩm, khô hanh liên quan đến bệnh trứng cá, người da trắng và da vàng bị trứng cá nhiều hơn người da đen
  • Yếu tố nghề nghiệp: Khi tiếp xúc với dầu mỡ, với ánh nắng nhiều….làm tăng khả năng bị bệnh
  • Yếu tố stress: có thể gây nên bệnh hoặc làm nặng thêm bệnh trứng cá
  • Chế độ ăn: một số thức ăn có thể làm tăng nặng bệnh trứng cá như Chocolate, đường, bơ, cà phê…
  • Các bệnh nội tiết: một số bệnh Cushing, bệnh đường giáp trạng, bệnh buồng trứng đa nang….làm tăng trứng cá
  • Thuốc: Một số thuốc làm tăng trứng cá như corticoid, nhóm halogen…
  • Một số nguyên nhân tại chỗ: vệ sinh da mặt, chà xát, nặn bóp không đúng phương pháp, lạm dụng mỹ phẩm

Điều trị[sửa | sửa mã nguồn]

Mục tiêu[sửa | sửa mã nguồn]

Thuốc điều trị[sửa | sửa mã nguồn]

Chia làm 4 nhóm chính:

  • Nhóm thuốc làm bạt sừng, bong vảy (keratolytics): Ví dụ mỡ salicylic acid 5-10%: có tác dụng làm mỏng lớp sừng trên bề mặt da, giúp chất bã thoát ra ngoài dễ dàng hơn. Nhóm thuốc này thích hợp để làm bong các nút sừng ở các loại mụn đầu trắng, mụn bọc nhỏ.
  • Nhóm thuốc kháng sinh (antibiotic) và kháng khuẩn (antibactarial): Thường dùng các kháng sinh như clindamycin, erythromycin, kháng khuẩn chống viêm như benzoyl peroxide. Dùng cả đường toàn thân và tại chỗ.
  • Nhóm vitamin A acid (retinoid): Có tác dụng chống sừng hoá cổ tuyến bã, do đó ngăn ngừa hình thành các nút sừng tại cổ tuyến bã, giảm tắc nghẽn chất bã trong tuyến bã. Nên dùng kết hợp với nhóm kháng sinh để đạt hiệu quả điều trị cao hơn (Efasol)
  • Nhóm thuốc nội tiết (hormone): Liệu trình điều trị thường kéo dài từ 3 - 6 tháng. Không nên dùng loại thuốc tránh thai có thành phần progesterol đơn thuần vì loại này thường làm tăng nặng bệnh trứng cá. Nên dùng loại kết hợp progesterol tổng hợp thế hệ 2 như levonorgestrel, ethinyloestradiol cho các trường hợp trứng cá vừa và nặng.

Tư vấn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hạn chế dùng thuốc có brom, corticoid
  • Rửa mặt bằng sữa rửa mặt phù hợp
  • Ăn ít đường, chocolate, chất béo, đồ rán
  • Tránh làm việc quá sức, hạn chế stress.


Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thuốc biệt dược & cách sử dụng, phần chuyên khảo, DS.Phạm Thiệp-DS.Vũ Ngọc Thuý, NXB Y Học 2005
  • Da liễu học (dùng cho đào tạo bác sỹ đa khoa), PGS.TS.Phạm Văn Hiển, NXB Giáo dục Việt Nam 2009