Miyazaki Aoi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đây là một tên người Nhật; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Miyazaki. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp tên người Nhật hiện đại khi viết bằng ký tự La Tinh thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau).
Miyazaki Aoi

Aoi Miyazaki nhận giải Élan d'or Award vào năm 2009
Sinh 30 tháng 11, 1985 (28 tuổi)
Tokyo, Japan
Công việc Diễn viên
Năm hoạt động 1989—đến nay
Vợ (hoặc chồng) Takaoka Sosuke (2007—2011) (Ly dị)
Website
www.aoimiyazaki.jp

Miyazaki Aoi (宮﨑 あおい Cung Kỳ Quỳ?, sinh ngày 30 tháng 11 năm 1985) là nữ diễn viên người Nhật. Cô nổi tiếng với vai chính trong các phim NanaVirgin Snow. Anh trai của cô, Miyazaki Masaru, cũng là một diễn viên, hai người cùng đóng trong phim Hatsukoi. Cô cưới diễn viên Sosuke Takaoka vào ngày 15 tháng 6/2007, anh là bạn diễn với cô từ khi cô 15 tuổi.[1] Tuy nhiên, hai người đã ly dị vào tháng 12 năm 2011.[2]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Miyazaki đến với ngành giải trí rất sớm khi cô mới chỉ 4 tuổi. Lúc đầu cô chủ yếu xuất hiện trong các bản tin quảng cáo trên TV hoặc trên các tạp chí, thỉnh thoảng cô đóng một số vai phụ trong các bộ phim truyền hình. Cô lần đầu chạm ngõ điện ảnh với vai diễn trong bộ phim Ano Natsu no Hi, khi đó cô mới chỉ 14 tuổi.

Cũng vào tuổi 14, Miyazaki thu hút sự chú ý của làng điện ảnh thế giới khi cô xuất hiện trong phim Eureka của đạo diễn Shinji Aoyama, trong phim cô là một trong số những người sống sót sau một vụ cướp xe bus thảm khốc. Bộ phim thắng giải International Federation of Film Critics tại Liên hoan phim Cannes năm 2000, sau đó cô được trao giải Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất tại Japanese Professional Movie Awards.[3] Trong năm 2003, cô cũng xuất bản đĩa đơn đầu tiên The Little Prince.

Sau đó, Miyazaki còn thắng thêm giải Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất tại Liên hoan phim quốc tế Cinemanila cho diễn xuất của cô trong phim Harmful Insect.[3] Cô tiếp tục hợp tác với đạo diễn Aoyama trong bộ phim mới Eli, Eli, Lema Sabachthani?, bộ phim đoạt giải Un Certain Regard tại Liên hoan phim Cannes năm 2005. Cũng vào năm này, cô đóng cùng ca sĩ kiêm diễn viên Mika Nakashima trong bộ phim thành công về cả doanh thu lẫn giới phê bình Nana.

Năm 2008, cô được trao giải Galaxy Individual Award cho vai diễn trong bộ phim truyền hình lịch sử (taiga) của đài NHK, Atsuhime.[4]

Tại LHP The Newport Beach tổ chức ở Newport Beach, CA, sẽ trình chiếu bộ phim mới của cô Wolf Children (宮﨑 あおい) vào thứ bảy, ngày 27 tháng 4/2013.[5]

Hoạt động khác[sửa | sửa mã nguồn]

Bên cạnh diễn xuất, Miyazaki còn xuất hiện trong các quảng cáo của những tập đoàn nổi tiếng, bao gồm Aflac, Tokyo Metro, NTT DoCoMoOlympus. Đầu năm 2008, cô cũng được chọn làm người mẫu cho các bảng quảng cáo của Emporio Armani.[6]

Hoạt động nhân đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những năm gần đây, Miyazaki rất tích cực tham gia các hoạt đông nhân đạo.

Năm 2005, cô cùng anh trai Masaru Miyazaki du lịch tới Ấn Độ để trải nghiệm trực tiếp cuộc sống của những người nghèo ở đây, sau đó hai người xuất bản những bức ảnh về những nơi họ đã đến qua cuốn sách ảnh Tarinai Peace xuất bản năm 2006.

Năm 2006, hai anh em tiếp tục đến Đan Mạch và Phần Lan theo một dự án cảnh báo sự ấm lên của Trái đất. Những trải nghiệm của họ tiếp tục được xuất bản thành hai cuốn sách ảnh năm 2006, hai cuốn lần lượt có tên là Love, PeaceGreen Tarinai, Peace2.

Tháng 4 năm 2008, Miyazaki tham gia hoạt động đi bộ Dải ruy-băng Vàng (Gold Ribbon Walking) ở Roppongi, Tokyo nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng và kêu gọi tài trợ cho quỹ các trẻ em bị ung thư.

Bộ phim năm 2008 của cô Children of the Dark cũng là một tác phẩm nhằm lên án việc bóc lột sức lao động với trẻ em.[7]

Phim tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên phim Vai diễn Ghi chú
1999 Ano Natsu no Hi Tama Kobayashi
2000 Swing Man Futami Minase
2001 Eureka Kozue Tamura
2002 Harmful Insect Sachiko Kita Vai chính
Pakodate-jin Hikaru "Pikaru" Hino Vai chính
Tomie: The Final Chapter - Forbidden Fruit Tomie Hashimoto Vai chính
2003 Lovers' Kiss Eriko Kawana
2004 Loved Gun Miyuki
A Blue Automobile Konomi Saeki
Riyu Yukari Ishida
Amoretto Female high-school student
2005 All About My Dog Mika Vai chính
Nana Nana Komatsu Vai chính
2006 Gin-iro no Kami no Agito Toola Lồng tiếng, Vai chính
Gimme Heaven Mari Michiki
Eli, Eli, Lema Sabachthani? Hana
Su-ki-da Yu (young) Vai chính
Hatsukoi Misuzu Vai chính
Tada, Kimi o Aishiteru Shizuru Satonaka Vai chính
Umi de no Hanashi Kaede Fukino Vai chính
2007 Tokyo Tower: Mom and Me, and Sometimes Dad DJ Idol
Virgin Snow Nanae Sasaki
Sad Vacation Kozue Tamura
2008 Bloody Snake Under the Sun An Anjo
Flowers in the Shadow Naruko/Hisako
Children of the Dark Keiko Otowa
2009 The Shōnen Merikensack Kanna Kurita Vai chính
Mt. Tsurugidake Hatsuyo Shibasaki
2010 Solanin Meiko Vai chính
Okan no Yomeiri
Colorful Lồng tiếng
2011 Kamisama no Karute Haruna Kurihara
Tsure ga Utsu ni Narimashite
2012 Wolf Children Ame and Yuki Hana Vai chính, Lồng tiếng
2013 Petal Dance Jinko

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên phim Vai diễn Ghi chú
1999 Genroku Ryoran Sayo Yatō
2000 Hatachi no Kekkon Shiori Chūganji
Girl Azusa Minami Vai chính
Himitsu Club O-daiba.com Rei Kōgen
2001 Kabushikikaisha O-daiba.com Rei Kōgen
R-17 Yukari Nomura
Fure, Fure Jinsei! Kyōko Yūki
Ao to Shiro de Mizuiro Kaeda Uchiyama Vai chính, Tập đặc biệt
2002 Shiawase No Shippo Moe Sasamoto
Keitaideka Zenigata Ai Ai Zenigata Vai chính
2004 Chotto Matte Kamisama Akihiko Amagi
Riyu Yukari Ishida
Chichi no Umi, Boku no Sora Honoka Arai
2006 Junjo Kirari Sakurako Arimori Vai chính
2008 Atsuhime Okatsu/Atsuhime Vai chính

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

  • 2002 Cinemanila International Film Festival: Nữ chính xuất sắc nhất trong Harmful Insect[3]
  • 2002 Japanese Professional Movie Award: Gương mặt triển vọng trong Eureka[3]
  • 2002 Nikkan Sports Film Award: Tài năng mới trong Harmful Insect, Pakodate-jin, Tomie: The Final Chapter - Forbidden Fruit[3]
  • 50th Television Drama Academy Awards: Nữ chính xuất sắc nhất trong Junjo Kirari (2006)
  • 12th Nikkan Sports Drama Grand Prix (Jul to Sep 2008): Nữ chính xuất sắc nhất trong Atsuhime
  • 12th Nikkan Sports Drama Grand Prix (Oct to Dec 2008): Nữ chính xuất sắc nhất trong Atsuhime[8]
  • 59th Television Drama Academy Awards: Nữ chính xuất sắc nhất trong Atsuhime
  • 45th Galaxy Awards: Individual Award
  • Người phụ nữ của năm 2008 do tạp chí Vogue bầu chọn[9]
  • 2009 Elan d'or Awards: Gương mặt triển vọng[10]
  • TVnavi's Drama of the Year 2008: Nữ chính xuất sắc nhất trong Atsuhime[11]
  • 12th Annual Drama Grand Prix: Nữ chính xuất sắc nhất trong Atsuhime[12]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Aoi Miyazaki, Sousuke Takaoka announce marriage”. Tokyograph. 15 tháng 6 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2010. 
  2. ^ “Takaoka Sousuke confirms divorce from Miyazaki Aoi”. Tokyohive. 20 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2011. 
  3. ^ a ă â b c “Awards for Aoi Miyazaki”. IMDB. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2010. 
  4. ^ “Aoi Miyzaki wins Galaxy Award for NHK drama”. Japan Today. 25 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2009. 
  5. ^ ”Wolf Children Newport Beach Film Festival 2013 Screening”
  6. ^ “Aoi Miyazaki chosen as Armani model”. Tokyograph. 6 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2010. 
  7. ^ Aoi Miyazaki: from TV princess to rescuer of trafficked children, Japan Times, 2008/07/17. Retrieved October 10, 2008.
  8. ^ “Drama Grand Prix: "Ryusei no Kizuna" dominates”. Tokyograph. 20 tháng 1 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2010. 
  9. ^ “Aoi Miyazaki, Juri Ueno named Vogue's Women of the Year”. Tokyograph. 28 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2010. 
  10. ^ “2009 Elan d'or Awards”. Tokyograph. 6 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2010. 
  11. ^ “"Maou" voted TVnavi's Drama of the Year”. Tokyograph. 22 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2010. 
  12. ^ “"Maou" wins annual Drama Grand Prix”. Tokyograph. 1 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2010. 

Linh xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]