Núi Hồng Lĩnh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
núi Hồng Lĩnh nhìn từ Can Lộc

Núi Hồng Lĩnh tên Nôm là Ngàn Hống hay Rú Hôống, cũng đọc là Hống, tên chữ là Hồng Sơn (núi Hồng) hay Hồng Lĩnh, là dãy núi núi nổi tiếng nhất Hà Tĩnh. Cùng với sông Lam, núi Hồng Lĩnh được xem là biểu tượng hồn thiêng sông núi của xứ Nghệ.

Vị trí[sửa | sửa mã nguồn]

Núi Hồng Lĩnh nằm giữa địa phận Thị xã Hồng Lĩnh và hai huyện Nghi XuânCan Lộc. Toạ độ từ 105 41’ đến 105 55’ kinh đông và từ 18 28’ đến 18 39’ vĩ bắc. Cách thành phố Vinh khoảng 10 km về hướng Nam. Sườn phía Bắc núi Hồng Lĩnh nằm dọc theo Sông Lam. Núi Hồng Lĩnh là một trong số ít các địa danh được khắc vào Bách khoa thư cửu đỉnh hiện đang đặt tại cố đô Huế (Năm Minh Mạng Thứ 7-1836).

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Mạch núi chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, từ nam bến thuỷ vào đến bắc Cửa Sót. Chia làm 3 nhóm núi: Nhóm Thiên Tượng và nhóm Đụn ngăn cách nhau bởi tuông Eo Bầu. Hồng Lĩnh là đợt cuối chót của dãy núi Pu Lai Leng (tây bắc Nghệ An), có kiến tạo từ 200 triệu năm trước, với độ cao 2711m (Rào Cỏ).
  • Hồng Lĩnh có nhiều đỉnh, tục truyền là 199 đỉnh và theo truyền thuyết Ông Đùng xếp núi thì đỉnh thứ 199 là Rú Thành(Rú Rum hay là Lam Thành sơn) ở bờ bắc sông Lam, chưa kịp dắt về để cho đủ 199 ngọn núi thực tế đo đạc địa lý có hơn 60 đỉnh nhô cao lên từ mấy chục mét và cao nhất là 676m. Tính từ tây bắc xuống có các đỉnh: Nam Bàn, Yên Xuân, Đà Hồng, Cột Cờ, Thiên Tượng, Mồng Già (có 2 ngọn), Bạch Tỵ, Hương Tích, Tai Voi, Mũi Rồng, Ông, Tháp Cờ, Chân Tiên Nhiều ngọn được mang tên kỳ thú do người đời đặt và lưu truyền.
  • Có 8 cửa truông thuận tiện cho đi lại qua Hồng Lĩnh từ tây sang đông và từ bắc xuống nam, như truông: Cộng Khánh, Vắn (Cố Ghép)... Trong núi có nhiều hang động như: động 12 cửa, động Chẻ Hai, động Đá Hang, động Hàm Rồng... Có đến 26 khe suối chảy từ trong núi ra và ngày nay có hàng mấy chục đập nước ở chân núi Hồng Lĩnh, một số ao hồ ở lưng núi và chân núi như Bàu Tiên, Vực Nguyệt, Ao Núi Lân, Bàu Mỹ Dương.

Di tích lịch sử- văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Nổi tiếng của Hồng Lĩnh là bề dày của các di sản văn hoá- lịch sử, từ các di tích như:

  • Đỉnh Tháp Cờ, nơi hoàng tử, con Mai Thúc Loan xây căn cứ,
  • Núi Lầu có hành cung của Lý Thánh Tông,
  • Luỹ Đá của Ngô Quảng nổi lên chống Pháp

và nhiều huyền thoại, truyền thuyết liên quan đến núi Hồng như: Ông Đùng xếp núi, truyền thuyết về kinh đô của Vua Hùng.... và với 7 sắc phong và 1 công lệnh thời Lê, Cùng với biết bao nhiêu giai thoại, thần thoại khác.

Nơi đây có khoảng 100 ngôi chùa và đền miếu. Có ngôi rất cổ như:

  • chùa Hương Tích
  • chùa Chân Tiên, nơi vẫn còn dấu chân người và chân ngựa trên tảng đá (gắn với truyền thuyết Tiên giáng trần).
  • Cụm Quần thể di tích lịch sử văn hóa Tiên Sơn đã được nhà nước xếp hạng di tích cấp tỉnh vào đầu năm 2012 và đang hoàn tất hồ sơ kiến trúc nghệ thuật đề nghị bộ VHTT DL xếp hạng cấp Quốc gia năm 2013 [Rú Tiên] Chùa Tiên Sơn,Đền Thánh, Miếu Bà Chúa kho, Đền Tiên,Tứ phủ Trần Triều,Tam tòa thánh mẫu, Theo đó hàng Năm lễ hội Tiên Sơn khai hội vào ngày 15/tháng giêng âm lịch, Quy mô lớn trang nghiêm trịnh trọng hoành tráng để phục vụ du khách du xuân đi hội Tiên Sơn

Lễ hội truyền thống[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lễ hội chùa Hương Tích ở xã Thiên Lộc, huyện Can Lộc. Chùa được xây dựng đời nhà Trần, thờ Phật và con gái vua Sở Trang Vương. Hàng năm cứ đến ngày 18/2 âm lịch, nhân dân ở khắp mọi nơi đến hội chùa cúng Phật, cầu yên và thăm cảnh đẹp của chùa. Lễ hội được tổ chức rất trang nghiêm. Giống như chùa Hương ở Hà Sơn Bình, quần thể chùa Hương ở Hà Tĩnh gồm có thượng điền (chùa chính), đền Thiên Vương và am Thánh Mẫu. Ngoài ra chùa còn có những cảnh đẹp liên kết: động Tiên Nữ 36 cửa vào ra, am Phun Mây, suối Tiên tắm... và luôn tịnh yên giữa rì rào gió lá rừng trúc, rừng thông cùng tiếng thác đổ trầm đều từ bốn phía trên đỉnh núi. Chùa tĩnh nhưng mỗi năm cũng có hơn vạn người đến viếng. Đông nhất là tháng giêng, hai và ngày rằm tháng bảy. Năm 1990 chùa được Nhà nước cấp bằng di tích văn hóa - thắng cảnh.
  • Lễ hội chùa Chân Tiên ở xã Thịnh Lộc - Can Lộc được tổ chức vào ngày 3/3 âm lịch hàng năm.
  • Lễ Hội Đua thuyền Truyền Thống đầu xuân 03 04 Tết Nguyên Đán ở Trung Lương
  • Lễ Hội Văn Hóa Tiên Sơn suốt tháng giêng hàng Năm
  • Lễ HộiĐền cả (Dinh Đô Quan Hoàng mười)

Được xây dựng vào năm 1060 thời nhà Lý vua Lý Thánh Tông về sau được trùng tu bởi thời nhà Lê bởi vua Lê Ý Tông 1726 và đến triều nhà Nguyễn 1427 trùng tu

Toạ lạc nơi Mỏ Hạc Linh Từ là ngã ba giao nhau giữa sông Minh Giang,sông La và sông Lam  xưa kia thuộc làng "Minh Lang Minh Lương Vân Chàng " thời nhà Lý thuộc bộ Việt thường cổ Vương quốc kinh đô ngàn Hống cư dân bộ lạc Việt thường quốc bên cạnh Sông La,Kênh nhà Lê(sông Minh giang) và Sông Lam (Cựu Đô Ngàn Hống) của cư dân bộ lạc Việt thường quốc bên cạnh Sông La,Kênh nhà Lê (sông Minh giang) dưới chân núi Hùng BảoThứu Lĩnh,(cựu Đô) (Ngàn Hống)  nay là Hồng Lĩnh có 199 ngọn (Theo Ngọc Phả Hùng Vương hiện lưu giử tại bảo tàng Hùng Vương)ngày xưa ngôi đền toạ lạc chính lễ cả tổng xứ Nghệ an châu về dự đại yết nên nhân dân trong vùng quen gọi là Đên Cả thuộc tổ dân phố Hầu Đền (có Hói Cửa Đền) Phường Trung Lương Thị xã Hồng Lĩnh tỉnh Hà Tĩnh(Dinh Đô Quan Hoàng Mười) hiện nay gần như bị phế tích hoàn toàn

Ngày lễ hội chính diễn ra vào ngày 10 tháng 10 âm lịch hằng năm còn có lễ hội khai điểm vào ngày rằm tháng 3.[1] Lễ hội có các hoạt động hấp dẫn như rước sắc bằng thuyền từ nhà thờ họ Nguyễn ra đền, hát chầu văn, thi chọi gà, đánh cờ người.

Lễ hội chính trên thì rằm tháng giêng và tháng bảy nghi lễ tế thần tại đền, sau đó rước kiệu thần về đình đền trong tổng phủ, mở Hội vui 3 ngày, có thi đánh cờ, kéo co, đua vật và hát tuồng bội, phường chèo,chầu văn,sắc bùa,bơi thuyền rồng chầu đền, v.v.. đến ngày thứ 4 rước kiệu về đền.đây là lễ hội lớn của cả vùng

(Cung văn trong Đạo Mẫu Việt Nam khi hầu giá Quan Hoàng Mười có đoạn miêu tả)

Tuổi thanh xuân một đấng anh hùng

Tài ba lỗi lạc khắp vùng Nghệ An
Ai vô xứ Huế thì vô
Qua cầu bến thuỷ tới Dinh đô ông Hoàng Mười''''

Nguồn Hát văn ông Hoàng Mười 'http://daomau.com/

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]