Ngải cứu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Artemisia vulgaris
ArtemisiaVulgaris.jpg
Ngải cứu (Artemisia vulgaris)
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
(không phân hạng) Asterids
Bộ (ordo) Asterales
Họ (familia) Asteraceae
Chi (genus) Artemisia
Loài (species) A. vulgaris
Danh pháp hai phần
Artemisia vulgaris
L.

Ngải cứu còn có tên thuốc cứu, ngải diệp, nhả ngải (tiếng Tày), quá sú (H'mông), cỏ linh li (Thái), danh pháp hai phần: Artemisia vulgaris, là một loài thực vật thuộc họ Cúc (Asteraceae).

Ngải cứu là cây thân thảo, sống lâu năm, lá mọc so le, chẻ lông chim, phiến men theo cuống đến tận gốc, dính vào thân như có bẹ, các thùy hình mác hẹp, đầu nhọn, mặt trên màu lục sậm, mặt dưới phủ đầy lông nhung màu trắng. Những lá ở ngọn có hoa không chẻ.

Cây ngải cứu ưa ẩm, dễ trồng bằng cách giâm cành hay cây con.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Cây cỏ, sống nhiều năm, cao 0,4 - 1m; cành non có lông. Lá mọc so le, phiến lá xẻ lông chim, mặt trên xanh sẫm, mặt dưới màu trắng xám, có lông. Vò nát có mùi thơm hắc. Cụm hoa hình đầu nhỏ, màu vàng lục nhạt, mọc tập trung thành từng chùm kép ở đầu cành. Quả bế nhỏ, không có túm lông.

Phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Ngải cứu có nguồn gốc ôn đớichâu Âu, châu Á, bắc Phi, Alaskabắc Mỹ, trong đó một số vùng coi nó là cỏ dại xâm lấn.

Thành phần[sửa | sửa mã nguồn]

Lá ngải cứu chứa tinh dầu, các flavonoid, các acid amin, như adenin, cholin.

Dược tính và cách dùng[sửa | sửa mã nguồn]

Ngải cứu có vị đắng, mùi thơm, tính ấm, được sử dụng lâu đời trong dân gian và trong Đông y để:

  • Cầm máu: phụ nữ kinh nguyệt không đều, có thai ra huyết, thổ huyết, chảy máu cam, đái ra máu.
  • Giảm đau nhức.
  • Sát trùng, kháng khuẩn: ghẻ lở, trị viêm da, dị ứng, viêm gan, trừ giun nhờ tinh dầu có tính kháng khuẩn cao.
  • Điều hòa khí huyết, đau kinh, ôn kinh, an thai.
  • Đau bụng do lạnh, nôn mửa, kiết lỵ.
  • Bạch đới, phong thấp, hàn thấp.
  • Lợi tiểu.

Ngải cứu có hoạt chất diệt và đuổi côn trùng.

Cách dùng[sửa | sửa mã nguồn]

Lá ngải sao cháy hoặc lấy lá ngải cứu tươi giã nát, thêm 1/3 muỗng cà phê muối đắp lên vết thương, cầm máu nhanh.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]