Nikolay Alexeyevich Nekrasov

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Nikolay Alexeyevich Nekrasov
Sinh 10 tháng 12 năm 1821
Flag of Russia.svg Nemirov, Đế chế Nga
Mất 8 tháng 1 năm 1878
Flag of Russia.svg Sankt-Peterburg, Đế chế Nga
Công việc Nhà thơ
Thể loại Thơ

Nikolay Alexeyevich Nekrasov (tiếng Nga: Никола́й Алексе́евич Некра́сов; 10 tháng 12 năm 1821 – 8 tháng 1 năm 1878) là nhà thơ Nga, một trong những nhà thơ lớn nhất của thơ ca Nga thế kỉ 19.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nikolay Alexeyevich Nekrasov sinh ở Nemirov (nay là tỉnh Vinitsa, Ukraina) trong một gia đình có 13 đứa con. Thời nhỏ thường sống ở trang trại bên bờ sông Volga, gần gũi với cuộc sống của nông dân. Từ 1832 đến 1837 ông học ở trường Gymnazy Yaroslavl. Năm 1838 Nekrasov đến Sankt-Peterburg và được nhận làm sinh viên dự thính của khoa triết, Đại học Sankt-Peterburg. Ông bắt đầu đăng thơ trên bào từ năm 1838; năm 1840 ông in tập thơ đầu tiên Мечты и звуки (Những ước mơ và tiếng vang) không thành công. Nhà phê bình Vissarion Grigoryevich Belinsky khuyên Nekrasov viết về những dề tài xã hội.

Trong những năm 1845-1846, ông gặt hái những thành công đầu tiên với những bài thơ nổi tiếng như В дороге (Trên đường), Тройка (Troyka), Родина (Tổ quốc) – nhà thơ đứng về phía nông dân, tố cáo địa chủ cường hào. Năm 1846 Nekrasov trở thành biên tập của tạp chí Sovremennik (Người đương thời) cho đến khi tạp chí bị đóng cửa vào năm 1866.

Trong thập niên 1850 và thập niên 1860, Nekrasov nổi tiếng là một nhà thơ của nhân dân, nhạy cảm với nỗi đau của con người và sự bất công trong xã hội. Những trường ca: Мороз, Красный нос (Giá băng, mũi đỏ, 1863), Кому на Руси жить хорошо (Ai sống sung sướng ở nước Nga, 1863-1877) đã vẽ lên bức tranh nhiều mặt của đời sống Nga mà trước hết là những người nông dân. Nhà thơ mơ ước về cuộc sống hạnh phúc cho họ. Các nhà phê bình gọi thơ và trường ca của Nekrasov là bộ bách khoa toàn thư về đời sống Nga trong những thập niên đó. Nikolay Nekrasov được coi là người kế tục truyền thống thơ ca của Alexander Sergeyevich Pushkin, Mikhail Yuryevich Lermontov và là người chuẩn bị sự phát triển tiếp theo của thơ ca Nga. Ông mất ở Sankt-Peterburg.

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Bảo tàng về N. Nekrasov ở Chudovo
  • Стихотворения (Thơ, 1856)
  • Крестьянские дети (Những đứa con nông dân, 1861), trường ca
  • Mороз, Красный нос (Giá băng, mũi đỏ, 1863), trường ca
  • Кому на Руси жить хорошо (Ai sống sung sướng ở nước Nga, 1863-1877), trường ca
  • Дедушка (Cô gái, 1870), trường ca
  • Русские женщины (Những người phụ nữ Nga, 1872-73), trường ca
  • Современники (1875-1876), thơ châm biếm
  • Колыбельная песня (Bài hát ru, 1871), thơ châm biếm
  • Современная ода (Bài oda thời hiện đại, 1873), thơ châm biếm
  • Недавнее время (Thời gian gần đây, 1871), thơ châm biếm

Một vài bài thơ[sửa | sửa mã nguồn]

Замолкни, Муза мести и печали!
 
Замолкни, Муза мести и печали!
Я сон чужой тревожить не хочу,
Довольно мы с тобою проклинали.
Один я умираю - и молчу.
 
К чему хандрить, оплакивать потери?
Когда б хоть легче было от того!
Мне самому, как скрип тюремной двери,
Противны стоны сердца моего.
 
Всему конец. Ненастьем и грозою
Мой темный путь недаром омрача,
Не просветлеет небо надо мною,
Не бросит в душу теплого луча...
 
Волшебный луч любви и возрожденья!
Я звал тебя - во сне и наяву,
В труде, в борьбе, на рубеже паденья
Я звал тебя,- теперь уж не зову!
 
Той бездны сам я не хотел бы видеть,
Которую ты можешь осветить...
То сердце не научится любить,
Которое устало ненавидеть.
 
Прости
 
Прости! Не помни дней паденья,
Тоски, унынья, озлобленья,-
Не помни бурь, не помни слез,
Не помни ревности угроз!
 
Но дни, когда любви светило
Над нами ласково всходило
И бодро мы свершали путь,-
Благослови и не забудь!
 
Ты всегда хороша несравненно
 
Ты всегда хороша несравненно,
Но когда я уныл и угрюм,
Оживляется так вдохновенно
Твой веселый, насмешливый ум;
 
Ты хохочешь так бойко и мило,
Так врагов моих глупых бранишь,
То, понурив головку уныло,
Так лукаво меня ты смешишь;
 
Так добра ты, скупая на ласки,
Поцелуй твой так полон огня,
И твои ненаглядные глазки
Так голубят и гладят меня,-
 
Что с тобой настоящее горе
Я разумно и кротко сношу,
И вперед - в это темное море -
Без обычного страха гляжу...
Nàng Thơ đau khổ
 
Thôi im đi, Nàng Thơ đau khổ
Chẳng muốn làm phiền nữa giấc mơ xinh
Tôi và em đã từng nguyền rủa
Giờ lặng im để tôi chết một mình.
 
Khóc làm chi những buồn đau mất mát?
Dẫu biết rằng khóc cho nhẹ lòng thêm
Tôi như cánh cửa tù rên cót két
Đã chán rồi tiếng nức nở con tim.
 
Thế là hết! Giờ gió mưa u ám
Đường tôi đi ảm đạm chẳng vô tình
Trên đầu tôi giờ chẳng còn hửng sáng
Tia nắng hồng ấm áp giữa tâm linh.
 
Tia nắng thần tiên của tình yêu hi vọng
Tôi vẫn gọi trong mơ và cả trong đời
Trong lao động, đấu tranh, khi bên bờ vực thẳm
Vẫn gọi tên nhưng nay đã thôi rồi!
 
Cái vực thẳm mà tôi không muốn biết
Nơi mà em muốn thắp sáng đôi điều
Con tim khi đã không còn thấy ghét
Có nghĩa là cũng đã chẳng còn yêu.
 
Xin lỗi
 
Xin lỗi nhé! Quên đi ngày sụp đổ
Quên hết buồn đau, thất vọng, ưu phiền
Quên đi nước mắt, quên ngày bão tố
Quên oán thù và giận dỗi, hờn ghen.
 
Nhưng trong ngày, khi tình yêu rực rỡ
Ôm vào lòng tình ve vuốt mơn man
Ta sảng khoái biết bao và hãy nhớ
Với cuộc đời đừng quên nói: cảm ơn!
 
Em bao giờ cũng xinh đẹp tuyệt trần
 
Em bao giờ cũng xinh đẹp tuyệt trần
Nhưng khi anh buồn rầu và cau có
Thì em hào hứng, thì em rộn rã
Em vui tươi và em nhạo cười anh.
 
Em cười vang mà nghe thật dễ thương
Như kẻ thù của anh em nhạo báng
Đầu gục xuống trông vô cùng sầu thảm
Em nhạo cười anh láu lỉnh, thật buồn.
 
Em ngoan hiền, ít âu yếm với anh
Nhưng nụ hôn của em luôn cháy bỏng
Đôi mắt của em dịu dàng, đằm thắm
Đang vuốt ve và mơn trớn nhìn anh.
 
Rằng khổ đau trong hiện tại vì em
Anh dễ dàng và khôn ngoan gắng đợi
Và phía trước – dù chỉ là biển tối
Bằng đôi mắt không sợ hãi anh nhìn…
Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]