Ocypode convexa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ocypode convexa
Ocypode convexa - 1824 illustration.jpg
Một con cua ma vàng từ Gnaraloo, Tây Australia
110209 GTCP Field Diary Red crab Photo 2.JPG
Một con cua ma có epibiotic mọc bao phủ thân, khiến nó có màu hồng
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Arthropoda
Phân ngành (subphylum) Crustacea
Lớp (class) Malacostraca
Bộ (ordo) Decapoda
Phân thứ bộ (infraordo) Brachyura
Họ (familia) Ocypodidae
Phân họ (subfamilia) Ocypodinae
Chi (genus) Ocypode
Loài (species) O. convexa
Danh pháp hai phần
Ocypode convexa
Quoy & Gaimard, 1824
phạm vi phán bố Ocypode convexa (màu xanh lá cây)
phạm vi phán bố Ocypode convexa
(màu xanh lá cây)
Danh pháp đồng nghĩa[1]

Ocypode convexa hay cua ma vàng trong tiếng Anh là một loài cua bản bờ biển địa Tây Úc. Loài cua này được tìm thấy từ Broome đến Perth. Chúng là loài cua khá lớn với mai dài đến 45 mm và rộnh đến 52 mm. Dễ dàng nhận ra chúng với màu vàng. Giống như nhiều loài cua ma khác, loài cua này có thân trông giống cái hộp với hai càng bằng nhau. Chúng có các cuống mắt lớn với giác mạc chiếm phần lớn phần dưới. Cua ma vàng thường sinh sống ở những bãi biển cát mở, sống trong hang ở vùng triều và trên khu vực ngập thủy triều. Chúng chủ yếu hoạt động vào ban đêm và sinh sống cả trên mặt đất và trong hang.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên sakai

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Ocypode convexa tại Wikimedia Commons