Phật Câu Na Hàm Mâu Ni

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Phật Câu Na Hàm Mâu Ni
Tượng Phật Câu Na Hàm tại chùa Ananda, Myanma
Tượng Phật Câu Na Hàm tại chùa Ananda, Myanma
Pāli Koõàgamano Buddha
Miến Điện:  ကောဏာဂုံ [kɔ́nàɡòʊɴ]
Trung:  拘那含牟尼
Nhật:  拘那含牟尼; くなごんむに; Kunagonmuni
Mông Cổ:  Канагамуни
Tây Tạng:  Serthub
Việt:  Phật Câu Na Hàm Mâu Ni
Thông tin
Tôn kính:  Thượng tọa bộ, Đại thừa, Kim cương thừa
Tiền nhiệm:  Phật Câu Lưu Tôn
Kế nhiệm:  Phật Ca Diếp

Symbol question.svg Chủ đề:Phật giáo

Thể loại 
Phật giáo

Dharma Wheel.svg
Chủ đề

Lịch sử
Thích-ca Mâu-ni
Các đệ tử

Thuật ngữ

Tứ diệu đế
Duyên khởi
Vô thường
Khổ · Vô ngã
Trung đạo · Tính không
Ngũ uẩn
Nghiệp chướng · Đầu thai
Luân hồi

Tam học

Tam bảo
Giới · Sự cứu cánh
Thiền (Phật giáo) · Bát-nhã
Bát chính đạo
Tam thập thất bồ-đề phần
Tăng-già · Cư sĩ

Tông phái · Kinh điển
Thượng tọa bộ · Tiểu thừa
Đại thừa
Đại Tạng Kinh Trung Quốc
Kim cương thừa
Đại Tạng Kinh Tây Tạng

Phật Câu Na Hàm Mâu Ni hay Phật Câu Na Hàm (Koṇāgamana Buddha) là một trong số các vị Phật của hiền kiếp. Theo tín ngưỡng Phật giáo, Câu Na Hàm là tên gọi của vị Phật thứ 26, thứ hai trong số năm vị Phật của hiền kiếp, và là vị Phật thứ 5 trong số Bảy vị Phật quá khứ[1].

Phật Câu Na Hàm là người thuộc đẳng cấp Bà-la-môn, họ Kassapa[2][3][4]. Phụ thân là Yannadatta (Đại Đức, 大德) còn mẫu thân là Uttarã (Thiện Thắng, 善勝). Vị vua trị vì thời đó Sobha (Thanh Tịnh, 清凈). Kinh thành của vua Sobha tên là Sobhavatĩ (Thanh Tịnh)[2][3][4].

Cây giác ngộ của ông là ưu đàm (Ficus racemosa, udumbara, cây sung)[5].

Hai đệ tử hàng đầu của ông là Bhiyyosa (Thư-bàn-na, 舒槃那) và Uttara (Uất-đa-la / Uất Đa Lâu, 鬱多樓) còn vị chấp sự đệ tử (thị giả tỷ kheo) tên là Sotthija (An Hòa, 安和)[2][3][4]. Ông có con trai tên là (Đạo Sư, 導師)

Đại Bổn kinh chép rằng trong thời của ông thì tuổi thọ của loài người là 30.000 năm[2][3][4]. Trong đời, ông thuyết giảng bài thuyết pháp đầu tiên của mình cho một tăng hội gồm 30.000 tỷ kheo[2][3][4].

Tại Myanma[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Myanma thì Phật Câu Na Hàm được gọi là Koṇāgon hay Koṇāgamanan. Theo thần thoại Myanma, ông sinh ra vào ngày thứ Tư[6], do đó tượng của Phật Câu Na Hàm được đặt trên ban thờ ngày thứ Tư.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Gärtner, Uta; Jens Lorenz (1994). Tradition and modernity in Myanmar. LIT Verlag. tr. 281. ISBN 978-3-8258-2186-9. 
  2. ^ a ă â b c Suttantapiñake - Mahàpadànasuttaü (Kinh Đại Bổn tiếng Pali)
  3. ^ a ă â b c - Trường bộ kinh - Kinh Đại Bổn (Bản dịch tiếng Việt của hòa thượng Thích Minh Châu)
  4. ^ a ă â b c Trường A hàm kinh - Kinh Đại Bổn (tiếng Trung)
  5. ^ Bản dịch của Hòa thượng Thích Minh Châu cho đoạn này chỉ phiên âm thành ô-tam-bà-la, nhưng ở các đoạn khác, như trong Kinh tập (Sutta Nipata) của Tiểu bộ kinh (Khuddaka Nikaya), phần phẩm Rắn (Uragavagga), kinh Rắn (Uraga Sutta), hòa thượng Thích Minh Châu lại dịch udumbara thành cây sung.
  6. ^ Reid, Robert; Michael Grosberg (2005). Myanmar (Burma). Lonely Planet. tr. 93. ISBN 978-1-74059-695-4. 
Tiền nhiệm:
Phật Câu Lưu Tôn
Bảy vị Phật quá khứ Kế nhiệm:
Phật Ca Diếp