Phan Nhật Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Phan Nhật Nam tên thật là Phan Ngọc Khuê (9 tháng 9 năm 1943 -) là một nhà văn Việt Nam.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ra tại Nại Cửu, Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Cha ông là Phan Văn Trình gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam nhưng bị loại bỏ vì tội "tiểu tư sản, gia đình hào lý...". Vì sư kiện này lý lịch/danh tính của Phan Ngọc Khuê được đổi thành Phan Nhật Nam. Ông là một nhà văn của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Sau khi tốt nghiệp khóa 18 Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt, ông là một sĩ quan của binh chủng Nhẩy Dù với cấp bậc Trung úy.

Đóng góp văn học[sửa | sửa mã nguồn]

Tác phẩm đầu tay của ông là cuốn Dấu Binh Lửa (1969). Tiếp theo là các tác phẩm: Dọc Đường Số Một, Ải Trần-gian (1970), Mùa Hè Đỏ Lửa (1972), Dựa Lưng Nỗi Chết (1973) và Tù Binh và Hòa Bình (1974). Những tác phẩm của ông đều lấy Chiến tranh Việt Nam làm bối cảnh.

Sau 1975, ông bị bắt giam vào trại tập trung cải tạo 14 năm (1975-1989). Trong nhiều lần bị biệt giam hàng năm trời trong hầm tối, ông cũng làm ra nhiều bài thơ. Tuy sau ông được thả, nhưng lại bị quản chế tại gia ở Lái Thiêu, Bình Dương.

Năm 1993 ông sang Mỹ định cư và cho ra mắt những tác phẩm: Những Chuyện Cần Được Kể Lại, Đường Trường Xa-xăm (1995), Đêm Tận Thất-thanhMùa Đông Giữ Lửa (1997). Năm 2002 cuốn Những Chuyện Cần Được Kể Lại được phát hành với ấn bản tiếng Anh dưới tựa The Stories Must Be Told.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Phan Nhật Nam, "Đôi điều về Người Lính viết văn", Mùa Hè Đỏ Lửa, Westminster, CA: Nắng Mới Miền Nam, 2003.