Si rô cây thích

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Si rô cây Thích đóng chai

Si rô cây thích thường được làm từ nhựa cây thích đường, cây thích đỏ, hay cây thích đen. Mặc dù nó cũng có thể được làm từ các cây họ Thích khác như cây Thích lá to. Ở khí hậu lạnh, những cây này chứa tinh bột ở thân và rễ cây trước mùa đông. Tinh bột sau đó được chuyển thành đường và sau đó thành nhựa vào mùa xuân. Người ta có thể lấy nhựa cây Thích bằng cách khoan những cái lỗ vào thân cây và thu hoạch nhựa ứa ra. Nhựa này sau đó được đun nóng để bóc hơi nước, và cô đặc lại chất si rô.

Si rô cây thích được thu hoặc lần đầu tiên và được dùng bởi người nguyên thủy ở Bắc Mỹ. Cách chế biến này được những người di dân Châu Âu tiếp thu và cải tiến. Sự cải tiến về công nghệ vào những năm 1970 đã giúp quá trình tinh luyện si rô tiến xa. Tỉnh Quebec của Canada là nơi sản xuất nhiều nhất, chiếm khoảng ba phần tư sản lượng thế giới; Canada xuất khẩu hơn 145 triệu đô la Canada (khoảng 141 triệu đô la Mỹ) giá trị si rô cây Thích mỗi năm. Vermon là nơi sản xuất nhiều nhất ở Mỹ, đóng góp khoảng 5.5 phần trăm vào nguồn cung của thế giới.

Si rô được đánh giá theo tiêu chuẩn của Canana, Mỹ hay Vermont tùy theo độ đậm đặc và trong suốt. Sucrose là loại đường thường thấy trong si rô cây Thích. Si rô phải chứa ít nhất 66 phần trăm đường và chỉ được làm duy nhất từ nhựa cây Thích thì mới được xem là si rô cây Thích Canada. Ở Mỹ, một loại si rô phải được làm gần như hoàn toàn từ nhựa cây Thích thì mới được dán nhãn "cây Thích". Si rô cây Thích thường được dùng với bánh kếp, bánh quế, bánh mì nướng kiểu Pháp, hay cháo yến mạch. Nó cũng được dùng như là thành phần để làm bánh, cũng như là chất tạo độ ngọt và hương vị. Những chuyên gia ẩm thực đã khen ngợi mùi vị đặc trưng của nó, mặc dù những thành phần hóa học của nó vẫn chưa được hiểu hoàn toàn.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]