SpaceX

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
SpaceX
SpaceX logo.svg

Tập đoàn công nghệ khai phá không gian.
Loại hình Công ty tư nhân
Ngành nghề Kỹ thuật hàng không vũ trụ
Thành lập 2002
Nhà sáng lập Elon Musk
Trụ sở chính Hawthorne, California, USA
Thành viên
chủ chốt
Elon Musk (Nhà sáng lập, CEO và Thiết kế trưởng)
Gwynne Shotwell (President và COO)[1][2]
Tom Mueller (VP of Propulsion)[3]
Dịch vụ Phi thuyền quỹ đạo, Tên lửa đẩy
Nhân viên 3,800 (Tháng 10,2013)[4]
Website SpaceX.com

Tập đoàn Công nghệ Khai phá Không gian, viết tắt theo tiếng Anh SpaceX, là một công ty tư nhân về vận chuyển trong không gian có trụ sở tại Hawthorne, California. Công ty được thành lập năm 2002 bởi Elon Musk, một trong những doanh nhân đã sáng lập công ty PayPal. SpaceX đã phát triển các tên lửa đẩy Falcon 1Falcon 9 với mục đích trở thành các tên lửa có thể tái sử dụng được. Công ty cũng đang phát triển tàu không gian Dragon được phóng lên quỹ đạo nhờ tên lửa Falcon 9.

Để kiểm soát chất lượng và chi phí, công ty SpaceX thực hiện quá trình thiết kế, lắp ráp và vận hành thử các thành phần chính của tên lửa và tàu không gian ở trong nhà xưởng, bao gồm các động cơ tên lửa Merlin, Kestrel, và động cơ Draco sử dụng trên tên lửa Falcon và tàu Dragon. Năm 2006, cơ quan NASA đã trao hợp đồng Dịch vụ vận chuyển thương mại quỹ đạo (COTS) cho công ty để thiết kế, chế tạo và phóng một tàu vận chuyển hàng hóa nhằm cung cấp cho Trạm vũ trụ quốc tế (ISS).[5] Ngày 9 tháng 12 năm 2010, SpaceX phóng thành công chuyến bay thử nghiệm lần 1 trong COTS, trở thành công ty tư nhân đầu tiên phóng thành công một tàu không gian lên quỹ đạo và sau đó thực hiện trở lại mặt đất an toàn.[6]

NASA cũng trao cho SpaceX một hợp đồng nhằm phát triển và thực hiện chương trình Phát triển đội bay thương mại bằng tàu Dragon nhằm đưa các nhóm phi hành gia lên ISS. SpaceX đang có kế hoạch sẽ đưa các phi hành gia lên quỹ đạo bằng Dragon/Falcon9 lần đầu tiên vào năm 2015 một khi công ty được công nhận có khả năng đưa người lên quỹ đạo.[7]

Bên cạnh các hợp đồng của NASA, SpaceX cũng nhận được hợp đồng với các công ty tư nhân khác, các cơ quan chính phủ ngoài Hoa Kỳ và từ quân đội Hoa Kỳ để thực hiện các đợt phóng. Công ty đã thực hiện một vụ phóng vệ tinh lên quỹ đạo thấp cho khách hàng bằng tên lửa Falcon 1 vào năm 2009.[8] Công có kế hoạch phóng vệ tinh địa tĩnh thương mại đầu tiên vào năm 2013 bằng tên lửa Falcon 9.

Tên lửa Falcon 9 của SpaceX mang theo tàu Dragon, phóng lên ngày 8 tháng 12 2010. Tên lửa Falcon 9 của SpaceX mang theo tàu Dragon, phóng lên ngày 8 tháng 12 2010.
Tên lửa Falcon 9 của SpaceX mang theo tàu Dragon, phóng lên ngày 8 tháng 12 2010.

Các dự án tương lai đang trong giai đoạn dự định hoặc phát triển bao gồm phát triển tên lửa Falcon Heavy[9], cũng như đưa một robot của NASA lên Sao Hỏa vào năm 2018.[10] Tên lửa Heavy có công nghệ dựa trên Falcon 9, và nếu nó được xây dựng như kế hoạch nó sẽ trở thành một trong những tên lửa mạnh nhất trong lịch sử thám hiểm vũ trụ của Hoa Kỳ kể từ thời kỳ chương trình Apollo với tên lửa Saturn V. Falcon Heavy có thể được sử dụng để đưa các nhà du hành trong tàu Dragon lên quỹ đạo quanh Mặt Trăng – như phi vụ Apollo 8; hoặc để phóng một phiên bản thay đổi của Dragon với không người lái lên Sao Hỏa. Musk đã đặt ra mục tiêu cho công ty nhằm giúp tạo ra sự có mặt ổn định của con người trên Sao Hỏa.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trụ sở của công ty, đặt tại Hawthorne, California.

SpaceX được sáng lập tháng 6/2002 bởi người đống sáng lập PayPalTesla Motors: Elon Musk, bởi ông muốn làm nhiều điều với tài sản của mình hơn là nghỉ ngơi hay làm từ thiện, và lĩnh vực vận tải không gian an toàn giá rẻ đang là một thị trường đầy cơ hội cần được khai thác tại Mỹ. Tầm nhìn của ông là chế tạo một tên lửa tái sử dụng tương đôi rẻ và đơn giản có thể bay vào không gian nhiều lần, tương tự khả năng bay khứ hồi mà các máy bay thương mại đang hoạt động. Tháng 3/2006, Musk đã đầu tư 100 triệu $ vào công ty.[11]

Tháng 1/2005, SpaceX đã mua 10% cổ phần của hãng Surrey Satellite Technology Ltd.[12] Ngày 4/8/2008, SpaceX nhận khoản đầu tư $20 million từ quỹ Founders Fund.[13] Đầu năm 2012, xấp xỉ 2/3 công ty được sở hữu bởi nhà sáng lập[14] và 70 triệu cổ phần của ông ước tính có giá trị 875 triệu $,[15] giá trị của SpaceX khoảng 1.3 tỷ đô vào tháng 2/2012.[16] Sau chuyến bay của phi thuyền Dragon C2+ tháng 5/2012, giá trị vốn hóa tư nhân của công ty tăng gần gấp đôi lên 2.4 tỷ $.[17][18] Năm 2012, Musk nhận thấy có thể tiến hành một IPO vào năm 2013,[19] nhưng sau đó ông đã thông báo vào tháng 6/2013 rằng ông có kế hoạch tạm dừng IPO cho đến sau khi chương trình vận tải "Mars Colonial Transporter chính thức đi vào hoạt động."[20]

Công ty đã phát triển nhanh chóng kể từ khi được sáng lập năm 2002, phát triển từ 160 nhân viên tháng 11/2005 lên tới 500 tháng 7/2008, trên 1,100 năm 2010,[21][22] 1800 in early 2012,[23] và 3,000 vào đầu năm 2013.[24] Đến tháng 10/2013, công ty đã phát triển tới 3,800 nhân viên chính thức và hợp đồng.[25]

Musk tin rằng giá thành cao của các dịch vụ phóng vào không gian là do dành một phần vào hệ thống hành chính quan liêu không cần thiết. Ông tuyên bố rằng một trong những mục tiêu của ông là cải thiện chi phí và sự tin tưởng cho các chuyến bay vào không gian, gấp 10 lần hiện nay.[26] SpaceX trở thành công ty tư nhân đầu tiên phóng và đưa tàu vũ trụ từ quỹ đạo trở về thành công vào 8/12/2010, sau khi phi thuyền Dragon trở về sau capsule returned from a two-orbit flight.[27] Space Foundation recognized SpaceX for its successful Dragon launch and recovery with the Space Achievement Award in 2011.[28]

At various conferences, SpaceX has revealed concept slides for future engine, stage, and launch vehicle designs. Development of these designs would be predicated on demand for increased performance. Company plans in 2004 called for "development of a heavy lift product and even a super-heavy, if there is customer demand" with each size increase resulting in a significant decrease in cost per pound to orbit. CEO Elon Musk said: "I believe $500 per pound ($1,100/kg) or less is very achievable."[29]

Elon Musk has stated the personal goal of eventually enabling human exploration and settlement of Mars.[30] He stated in a 2011 interview that he hopes to send humans to Mars' surface within 10–20 years.[30] In June 2013, Musk used the descriptor Mars Colonial Transporter to refer to the privately funded development project to design and build a spaceflight system of rocket engines, launch vehicles and space capsules to transport humans to Mars and return to Earth.[20]

On 16 June 2009, SpaceX announced the opening of its Astronaut Safety and Mission Assurance Department. It hired former NASA astronaut Ken Bowersox to oversee the department as a vice president of the company.[31] However, it has since been reported that the former astronaut subsequently left SpaceX in late 2011. No reason was given and no replacement in that position has been announced.[32]

In March 2014, COO Gwynne Shotwell said that once the Falcon Heavy and Dragon v2 crew version are flying, the focus for the company engineering team will be on developing the technology to support the transport infrastructure necessary for Mars missions.[33]

Nguồn vốn[sửa | sửa mã nguồn]

SpaceX là một công ty vận tải không gian được xây dựng bằng nguồn vốn tư nhân.[34] Công ty đã chế tạo dòng tên lửa đầu tiên —Falcon 1— và ba dòng động cơ tên lửa Merlin, Kestrel, và Draco— hoàn toàn bằng nguồn vốn tư nhân. SpaceX đã ký hợp đồng với chính quyền liên bang của chính phủ Mỹ sử dụng một phần quỹ phát triển cho tên lửa Falcon 9, dòng tên lửa sử dụng động cơ Merlin rocket engine.[34] SpaceX đang phát triển tên lửa đẩy Falcon Heavy, sử dụng động cơ Raptor, và tổ hợp công nghệ tên lửa đẩy có khả năng tái sử dụng bằng nguồn vốn tư nhân.

(Tính đến tháng 5 2012), SpaceX đã hoạt động với nguồn vốn xấp xỉ 1 tỷ $ trong 10 năm hoạt động đầu tiên của hãng. Trong số này, nguồn vốn tư nhân vào khoảng 200 triệu $, gồm Musk đầu tư xấp xỉ 100 triệu $ và các nhà đầu tư còn lại 100 triệu $ (các quỹ Founders Fund, Draper Fisher Jurvetson,...).[35] The remainder has come from progress payments on long-term launch contracts and development contracts. (Tính đến tháng 4 2012), NASA had put in about $400–500M of this amount, with most of that as progress payments on launch contracts.[36] Tháng 5/2012, SpaceX đã có hợp đồng cho 40 lần phóng, và mỗi hợp đồng trong số này provide down payments at contract signing, plus many are paying progress payments as các cấu kiện của tên lửa đẩy được chế tạo cho nhiệm vụ phóng nâng cao, driven in part bằng các quy tắc kiểm toán Mỹ cho các hợp đồng dài hạn.[36]

Tháng 8/2012, SpaceX đã ký một hợp đồng phát triển lớn với NASA để thiết kế và phát triển phi thuyền chở người cho "thế hệ kế tiếp cho phi thuyền có khả năng chở người của Hoa Kỳ", để tái khởi động việc đưa các nhà du hành vào không gian trên đất Mỹ từ năm 2017. Hai công ty khác, Boeing và Sierra Nevada Corporation, nhận được các hợp đồng phát triển tương tự. Advances made by all three companies under Space Act Agreements through NASA's Commercial Crew Integrated Capability (CCiCap) initiative are intended to ultimately lead to the availability of commercial human spaceflight services for both government and commercial customers. Một phần của thỏa thuận này, SpaceX đã nhận được một hợp đồng trị giá 440 triệu $ cho các chuyến tiếp tế hàng hóa lên ISS trong khoảng từ 2012 đến tháng 5/2014.[37][38]

Cuối năm 2012, SpaceX đã có hơn 40 lần phóng trên sổ sách kê khai khoảng 4 tỷ $ doanh thu từ hợp đồng — với nhiều trong số các hợp đồng này đang trong quá trình thanh toán cho SpaceX— gồm cả những khách hàng thương mại và chính quyền liên bang.[39] (Tính đến tháng 12 2013), SpaceX đã có 50 chuyến phóng tên lửa trong hợp đồng, hai phần ba số đó là các khách hàng thương mại.[40][41] Cuối năm 2013, truyền thông ngành công nghiệp không gian bắt đầu bình luận về sự kiên chi phí chế tạo của SpaceX thấp hơn các đối thủ cạnh tranh chính trong thị trường phóng vệ tinh thương mại — Ariane 5Proton[42]—at which time SpaceX had at least 10 further geostationary orbit flights on its books.[41]

Giám đốc điều hành của SpaceX là Musk thông báo trong tháng 6/2013 rằng ông có dự định giữ đợt IPO của SpaceX cho đến khi "Con tàu vận tải lên Sao Hỏa thực sự đi vào hoạt động."[20]

Một vòng huy động vốn nhỏ khoảng 50-200 triệu $ đã được tổ chức (tính đến tháng 4 2014).[43]

Hệ thống cơ sở[sửa | sửa mã nguồn]

Trụ sở chính[sửa | sửa mã nguồn]

SpaceX có trụ sở đặt ở ngoại ô thành phố Hawthorne của Los Angeles tại số 1 Rocket Road, Hawthorne, California. Một cơ sở lớn, trước đây sử dụng để sản xuất thân máy bay Boeing 747, giờ là trụ sở vũ trụ, điều khiển các sứ mệnh, sản xuất thiết bị của SpaceX. Khu vực là một trong những nơi tập trung lớn nhất của hàng không vũ trụ, với các trụ sở, các nhà máy, chi nhánh ở U.S., bao gồm các khu sản xuất vệ tinh chính của Boeing/McDonnell Douglas, Raytheon, Khu thí nghiệm sức đẩy phản lực của NASA, Lockheed Martin, BAE, Northrop Grumman, và AECOM, etc., với số lượng lớn các kỹ sư hàng không vũ trụ và các sinh viên kỹ thuật tốt nghiệp đại học gần đó. Many of the original NASA space shuttles were built and/or designed in the area, và sân bay quốc tế Los Angeles cũng được đặt trong khu vực.[cần dẫn nguồn] [44]

Cơ sở kiểm tra và tháo dỡ sau chuyến bay[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm về nội dung này tại SpaceX McGregor.

SpaceX has two rocket test facilities: the SpaceX Rocket Development and Test Facility in McGregor, Texas and a leased VTVL (vertical takeoff, vertical landing) test facility at Spaceport America in southern New Mexico. All SpaceX rocket engines are tested on rocket test stands, and low-altitude VTVL flight testing of the Falcon 9 Grasshopper v1.0 test vehicle are done at McGregor. High-altitude, high-velocity flight testing of Grasshopper v1.1 are planned to be done at Spaceport America. In addition, the McGregor facility is used for post-flight disassembly and defueling of the Dragon spacecraft.

The company purchased the McGregor, Texas, testing facilities of defunct Beal Aerospace, where it refitted the largest test stand at the facilities for Falcon 9 engine testing. SpaceX has made a number of improvements to the facility since purchase, and has also extended the size of the facility by purchasing several pieces of adjacent farmland. In 2011, the company announced plans to upgrade the facility for launch testing a VTVL rocket,[45] and then constructed a half-acre concrete launch facility in 2012 to support the Grasshopper test flight program.[46]

SpaceX McGregor engine test bunker, September 2012

SpaceX builds all of its rocket engines and thrusters at its main facility in Hawthorne, CA where the largest SpaceX campus is located, and where most of the highly technical components are engineered. A test facility in McGregor, TX is one of the secondary locations where the company tests each new engine off of the assembly line, as well as those being developed for future missions to orbit and beyond"[47] before each one can be used on a flight mission. (Tính đến tháng 10 2012), the McGregor facility has seven test stands that are operated "18 hours a day, six days a week"[47] and is building more test stands because production is ramping up and the company has a large manifest in the next several years.

The Dragon spacecraft, following use on a space mission, splashdown and recovery, are shipped to McGregor for de-fueling, cleanup, and refurbishment for potential reuse in future flight missions.

In May 2013, SpaceX announced that the high-altitude, high-velocity flight test program of Grasshopper v1.1—the second-generation of the SpaceX experimental VTVL suborbital technology-demonstrator—would be conducted at Spaceport America near Las Cruces, New Mexico. SpaceX signed a three-year lease with the spaceport.[48][49] and has constructed a 30 nhân 30 mét (98 ft × 98 ft) pad at Spaceport America, 7 kilômét (4,3 mi) southwest of the spaceport's main campus. It will lease the pad for US$6.600 per month plus US$25.000 per Grasshopper flight. The spaceport administrator expects SpaceX to be operational at the Spaceport sometime between October 2013 and February 2014, and that is the time that the lease payments will begin.[49][50]

Vận hành chuyến bay[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: SpaceX launch facilities
The first Falcon 1 at Vandenberg AFB. This vehicle was removed from VAFB due to delays and eventually launched from Kwajalein.

SpaceX currently uses two orbital launch sites—Cape Canaveral Air Force Station Space Launch Complex 40 and Vandenberg Air Force Base, Space Launch Complex 4—and have announced plans for two more. SpaceX has indicated that they see a niche for each of the four orbital facilities and that they have sufficient launch business to fill each pad.[51] In addition, SpaceX utilizes two facilities for suborbital launch operations and flight tests, the SpaceX Rocket Development and Test Facility in McGregor, Texas and a high-altitude flight test facility at Spaceport America in New Mexico.

Cape Canaveral space launch complex 40 (SLC-40) was used to launch Falcon 9 into low-earth and geostationary orbits, while Vandenberg AFB SLC-4E was used for payloads to polar orbits. The Vandenberg site is also intended for the first Falcon Heavy launch, scheduled in 2014.

All Falcon 1 launches took place at the Ronald Reagan Ballistic Missile Defense Test Site, Omelek Island, Kwajalein Atoll, Marshall Islands (northern Pacific Ocean). SpaceX abandoned Omelek when the Falcon 1 was retired.

Khu vực phóng mới dành cho tên lửa thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

(Tính đến tháng 4 2013), SpaceX is considering seven potential locations around the country for a new commercial-only launch facility for orbital flights, including Alaska, California, Florida,[52] Texas, Virginia,[53] Georgia,[54] and Puerto Rico.[55]

One of the proposed locations for the new commercial-mission-only spaceport is south Texas which, (tính đến tháng 3 2013) is the leading candidate for the location of the new SpaceX private launch facility, although Florida, Georgia and other locations remain in the running. The FAA released the draft Environmental Impact Statement for the proposed Texas facility in April 2013, and "found that 'no impacts would occur' that would force the Federal Aviation Administration to deny SpaceX a permit for rocket operations near Brownsville."[56][56] SpaceX expects to start construction on the new launch facility, in whichever state, no earlier than 2014, with the first launches from the facility no earlier than 2016.[57]

Khu vực phóng được thuê dành cho các chuyên bay chở người[sửa | sửa mã nguồn]

(Tính đến tháng 12 2013), SpaceX đã đàm phán để thuê Launch Complex 39A ở Trung tâm vũ trụ Kennedy tại Florida, theo quyết định của NASA thuê những khu phức hợp không được sử dụng như một phần của khoản thầu nhằm giảm chi phí bảo trì và hoạt động hãng năm.[58] Gói thầu của SpaceX là sử dụng khu phóng phức hợp dành riêng cho việc hỗ trợ cho các chuyến bay có người trong tương lai. A competing bid for commercial use of the launch complex was submitted by Jeff Bezos' Blue Origin, những người bỏ thầu cho việc sử dụng một khu phức hợp chung với bệ phóng có thể tích hợp với nhiều tên lửa đẩy, và các chi phí có thể chia ra trong dài hạn. One potential shared user in the Blue Origin notional plan là United Launch Alliance.[59]

Ban điều hành[sửa | sửa mã nguồn]

(Tính đến tháng 2 2014), SpaceX là một tập đoàn được diều hành bởi các cá nhân:

  • Elon Musk - Giám đốc điều hành kiêm Thiết kế trưởng[60]
  • Gwynne Shotwell - Chủ tịch kiêm COO[60]
  • Bulent Altan - Vice President of Avionics[cần dẫn nguồn]
  • Tim Buzza - Vice President of Launch and Test[60]
  • Adam Harris - Vice President of Government Sales[60]
  • James Henderson - Vice President of Quality Assurance[60]
  • Tim Hughes - Senior Vice President and General Counsel[60]
  • Bret Johnsen - Chief Financial Officer[60]
  • Mark Juncosa - Vice President of Structures[60]
  • Dr. Hans Koenigsmann - Vice President of Mission Assurance[60]
  • Andy Lambert - Vice President of Production[60]
  • Barry Matsumori - Vice President of Commercial Sales and Business Development[60]
  • Tom Mueller - Vice President of Propulsion Development[60]
  • Jeff Perkins - Vice President of Human Resources[60]
  • Robert Reagan - Vice President of Machining[60]
  • Marv Vander Weg - Vice President of EELV Customer Office[60]
  • Ken Venner - Chief Information Officer[60]

In addition, SpaceX is governed by the following members of its board of directors:

Hợp tác với NASA[sửa | sửa mã nguồn]

Chương trình COTS và CRS[sửa | sửa mã nguồn]

The COTS 2 Dragon is berthed to the ISS by Canadarm2

On 18 August 2006, NASA announced that SpaceX had won a NASA Commercial Orbital Transportation Services (COTS) contract to demonstrate cargo delivery to the International Space Station (ISS) with a possible option for crew transport. [64] This contract, designed by NASA to provide "seed money" for development of new boosters, paid SpaceX $278 million to develop the Falcon 9 launch vehicle, with incentive payments paid at milestones culminating in three demonstration launches. [65] In December 2008 SpaceX and Orbital Sciences Corporation each won a Commercial Resupply Services (CRS) contract. That of SpaceX is for at least 12 missions for $1.6 billion to carry supplies and cargo to and from the ISS. [66] On 9 December 2010, the launch of the COTS Demo Flight 1 mission, SpaceX became the first privately funded company to successfully launch, orbit and recover a spacecraft.

The original NASA contract called for the COTS Demo Flight 1 to occur the second quarter of 2008;[67] this flight was delayed several times, occurring at 1543 UTC on 8 December 2010.[68] Dragon was successfully deployed into orbit, circling the Earth twice, and then made a controlled reentry burn that put it on target for a splashdown in the Pacific Ocean off the coast of Mexico.[69] With Dragon's safe recovery, SpaceX become the first private company to launch, orbit, and recover a spacecraft; prior to this mission, only government agencies had been able to recover orbital spacecraft.[69]

According to the original schedule, in COTS Demo Flight 2 the Dragon spacecraft would make its second flight and would rendezvous with the ISS but not be berthed. The third flight would see Dragon being berthed to the ISS.[67] However, after the success of the first mission, NASA conditionally agreed on 15 July 2011 that the two flights would be combined, and the next Dragon mission was to have Dragon being berthed with the ISS.[70] On 9 December 2011, NASA formally approved the merger of the COTS 2 and 3 missions into the COTS 2 flight, but yet again delayed the tentative launch date by another month to 7 February 2012.[71] However, on 16 January 2012, SpaceX announced it needed more time for engineering tests, and postponed the launch date again, with no replacement date initially announced.[72] On 19 May at approximately 4:55AM EDT the launch for the COTS 2+ mission was automatically aborted when the pressure in one of the engine chambers was higher than expected. The COTS Demo Flight 2 launch was postponed to 22 May 2012, at which point it succeeded in putting the Dragon spacecraft into orbit. Several days later, the Dragon capsule successfully berthed with the International Space Station, marking the first time that a private spacecraft had accomplished this feat.[73][74]

Các chương trình CCDev và CCiCap[sửa | sửa mã nguồn]

SpaceX is planning a crewed Dragon/Falcon 9 flight in future years when it expects to have a fully certified, human-rated launch escape system incorporated into the spacecraft.[75] NASA's Commercial Crew Development (CCDev) program intends to develop commercially operated manned spacecraft that are capable of delivering crew to the ISS. SpaceX did not participate during the first round, however during the second round of the program NASA awarded SpaceX with a contract worth $75 million to further develop their launch escape system, test a crew accommodations mock-up and to further progress the Falcon 9/Dragon crew transportation design.[76][77] SpaceX later submitted a proposal for the third round of the CCDev program which became Commercial Crew Integrated Capability (CCiCap).[78]

On August 3, 2012, NASA announced new agreements with SpaceX and two other companies to design and develop the next generation of U.S. human spaceflight capabilities, enabling a launch of astronauts from U.S. soil in the next five years. Advances made by these companies under newly signed Space Act Agreements through the agency's CCiCap initiative are intended to ultimately lead to the availability of commercial human spaceflight services for government and commercial customers. As part of this agreement, SpaceX was awarded $440 million, to continue development and testing of its Dragon V2 spacecraft.[79]

Ý tưởng sứ mệnh Sao hỏa "Red Dragon"[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Red Dragon mission

Bổ sung vào kế hoạch huy động nguồn vốn riêng của SpaceX cho sứ mệnh cuối cùng là khai phá Sao Hỏa, (tính đến tháng 7 2011) NASA Ames Research Center đã phát triển một ý tưởng cho sứ mệnh Sao Hỏa với chi phí thấp với việc sử dụng Falcon Heavy là tên lửa đẩy cùng trans-Martian injection vehicle, và Dragon capsule để bay vào khí quyển Sao Hỏa. Ý tưởng, với tên gọi 'Red Dragon', được kêu gọi đầu tư trong năm 2012/2013 với tư cách là một sứ mệnh khám phá của NASA, sẽ phóng lên năm 2018 và đến Sao Hỏa vài tháng sau đó. Mục đích khoa học của sứ mệnh sẽ là tìm kiếm bằng chứng sự sống "các phân tử chứng minh cho sự sống, như DNA hay perchlorate reductase... chứng minh sự sống qua những phân tử sinh học.... Red Dragon sẽ khoan sâu xuống đất, tìm được nguồn băng nước water ice được cho là nằm bên dưới lớp đất đỏ." Chi phí của sứ mệnh dự tính dưới 425,000,000 triệu $, không bao gồm chi phí phóng tàu lên Sao Hỏa.[80][[]][thông tin ngày]

Các hợp đồng khác[sửa | sửa mã nguồn]

On 2 May 2005, SpaceX announced that it had been awarded an Indefinite Delivery/Indefinite Quantity (IDIQ) contract for Responsive Small Spacelift (RSS) launch services by the United States Air Force, which could allow the Air Force to purchase up to $100 million worth of launches from the company.[81] On 22 April 2008, NASA announced that it had awarded an IDIQ Launch Services contract to SpaceX for Falcon 1 and Falcon 9 launches. The contract will be worth up to $1 billion, depending on the number of missions awarded. The contract covers launch services ordered by 30 June 2010, for launches through December 2012.[82] Musk stated in the same 2008 announcement that SpaceX has sold 14 contracts for flights on the various Falcon vehicles.[82]

In December 2012, SpaceX announced its first two launch contracts with the United States Department of Defense. "The United States Air Force Space and Missile Systems Center awarded SpaceX two Evolved Expendable Launch Vehicle (EELV)-class missions:" Deep Space Climate Observatory (DSCOVR) and Space Test Program 2 (STP-2), to be launched in 2014 and 2015, respectively. DSCOVR will be launched on a Falcon 9 launch vehicle while STP-2 will be launched on a Falcon Heavy.[83]

SpaceX announced on 15 March 2010 that it would launch SES-8, a medium-sized communications satellite for SES, on a Falcon 9 vehicle, and it was successfully launched on 3 December 2013.[84] SES was SpaceX's first contract for a geostationary communications satellite launch.[41][84] In June 2010, SpaceX was awarded the largest-ever commercial space launch contract, worth $492 million, to launch Iridium satellites using Falcon 9 rockets.[85]

Sức ép giá cả và cạnh tranh trong lĩnh vực phóng tên lửa[sửa | sửa mã nguồn]

SpaceX's low launch prices, especially for communication satellites flying to geostationary (GTO) orbit, have resulted in market pressure on its competitors to lower their own prices. In recent years, the communications satellites launch market has been dominated by "Europe's Arianespace, which flies the Ariane 5, and International Launch Services (ILS), which markets Russia's Proton vehicle."[86] In November 2013 Arianespace announced new pricing flexibility for the "lighter satellites" it carries to orbits aboard its Ariane 5 in response to SpaceX's growing presence in the worldwide launch market,[87] and followed in early 2014 with a request to European governments for additional subsidies to face the competition from SpaceX.[88]

With a published price of US$56,5 million per launch to low Earth orbit, "Falcon 9 rockets are already the cheapest in the industry. Reusable Falcon 9s could drop the price by an order of magnitude, sparking more space-based enterprise, which in turn would drop the cost of access to space still further through economies of scale."[89] Falcon 9 GTO missions are priced approximately US$15 million less than a launch on a Chinese Long March 3B.[90]

In April 2014, seven European satellite operator companies—including the four largest in the world by annual revenue—have requested the ESA to "find immediate ways to reduce Ariane 5 rocket launch costs and, in the longer term, make the next-generation Ariane 6 vehicle more attractive for smaller telecommunications satellites.... [C]onsiderable efforts to restore competitiveness in price of the existing European launcher need to be undertaken if Europe is [to] maintain its market situation. In the short term, a more favorable pricing policy for the small satellites currently being targeted by SpaceX seems indispensable to keeping the Ariane launch manifest strong and well-populated."[91] In recent competitive bids, SpaceX has been winning launch customers that formerly "would have been all-but-certain clients of Europe’s Arianespace launch consortium, with prices that are $60 million or less."[91]

SpaceX has publicly indicated that if they are successful with developing the reusable technology, launch prices in the US$5 to 7 million range for the reusable Falcon 9 are possible.[92]

Các hợp đồng phóng tên lửa với chính phủ và thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

(Tính đến tháng 1 2013), SpaceX has a purely commercial launch manifest of "23 missions scheduled over the next 4 years, exclusive of US government flights, Dragonlab flights and the anticipated demo flight for Falcon Heavy"—of a total of 40 flights scheduled through 2017.[93] "Somewhat incongruously, its primary US competitor, United Launch Alliance, still maintains that it requires a large annual subsidy, which neither SpaceX nor Orbital Sciences receives, in order to remain financially viable, with the reason cited as a lack of market opportunity, a stance which seems to be in conflict with the market itself."[93]

On 3 December 2013 SpaceX launched its first satellite into geostationary orbit, SES-8, entering the major commercial launch market.[41] SpaceX prices undercut its major competitors, the Ariane 5 and Proton, in this market,[42] and SpaceX has at least 10 further geostationary orbit flights on its books.[41] Moreover, SpaceX prices for Falcon 9 and Falcon Heavy are much lower than the projected prices for the new Ariane 5 ME upgrade and its Ariane 6 successor, projected to be available in 2018 and 2021, respectively.[94] (Tính đến tháng 12 2013), SpaceX has a total of 50 future launches under contract, two-thirds of them are for commercial customers.[40]

SpaceX is however making a concerted effort to be able to make competitive bids for US military launches of EELV-class payloads. If the government opens up launches to competition, the earliest EELV launches that could be contracted with SpaceX (tính đến tháng 3 2014) would be in late 2016.[95]

Các phương tiện vận tải không gian[sửa | sửa mã nguồn]

SpaceX’s Falcon 9 rocket carrying the Dragon spacecraft, lifts off during the COTS Demo Flight 1 on 8 December 2010. SpaceX’s Falcon 9 rocket carrying the Dragon spacecraft, lifts off during the COTS Demo Flight 1 on 8 December 2010.
SpaceX’s Falcon 9 rocket carrying the Dragon spacecraft, lifts off during the COTS Demo Flight 1 on 8 December 2010.

SpaceX đang chế tạo hai dòng tên lửa đẩy chính: Falcon 1, có chuyến bay thành công đầu tiên ngày 28/9/2008,[96][97] và dòng tên lửa đẩy nâng cấp (EELV)-class Falcon 9, đã có chuyến bay đầu tiên và thành công vào quỹ đạo ngày 4/10/2010.[97] Dòng Falcon 5 cũng đã lên kế hoạch, nhưng việc phát triển đã dừng lại để tập trung cho dòng Falcon 9.[98] SpaceX cũng đã phát triển phi thuyền Dragon, một phi thuyền quỹ đạo điều áp được phóng lên nhờ tên lửa đẩy Falcon 9, có thể mang theo hàng hóa, và đang trong quá trình thử nghiệm đối với người.[99]

Các tên lửa đẩy Falcon[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Falcon (rocket family)
The Falcon 1 prototype at SpaceX's assembly facilities.

SpaceX has flown, or is developing, several orbital launch vehicles: the Falcon 1, Falcon 9, và Falcon Heavy. As of 2013, the Falcon 9 is currently in active use and the Falcon Heavy is under development.

The Falcon 1 was a small rocket capable of placing several hundred kilograms into low earth orbit.[97] It functioned as an early test-bed for developing concepts and components for the larger Falcon 9.[97] Falcon 1 made five flights in 2006–2009. On 28 September 2008, the Falcon 1 succeeded in reaching orbit on its fourth attempt, becoming the first privately funded, liquid-fueled rocket to do so.[100] The Falcon 1 carried its first successful commercial payload, RazakSAT, into orbit on 13 July 2009, on its fifth launch.[101] SpaceX has now retired the Falcon 1 and transferred Falcon 1 class payloads to be secondary payloads on the Falcon 9, which proved to be more efficient.

The Falcon 9 is an EELV-class medium-lift vehicle capable of delivering up to 10,450 kilograms (23,000 lb) to orbit, and is intended to compete with the Delta IV and the Atlas V rockets, as well as other launch providers around the world. It has nine Merlin engines in its first stage.[102] The Falcon 9 rocket successfully reached orbit on its first attempt in June 2010. The second flight for the Falcon 9 vehicle was the COTS Demo Flight 1 on 8 December 2010, the first launch under the NASA Commercial Orbital Transportation Services (COTS) contract, and was similarly successful.[82] Its third flight, COTS Demo Flight 2, launched on 22 May 2012, and was the first commercial spacecraft to reach and dock with the International Space Station.[103]

The Falcon Heavy began development as a heavy-lift configuration using a cluster of three Falcon 9 first stage cores with a total 27 Merlin 1D engines and propellant crossfeed in 2011.[104][105] [106] SpaceX is aiming for the first demonstration flight of the Falcon Heavy in 2014.[107]

Dragon[sửa | sửa mã nguồn]

The Dragon spacecraft approaching the ISS
The interior of the COTS 2 Dragon
Bài chi tiết: Dragon (spacecraft)

In 2005, SpaceX announced plans to pursue a human-rated commercial space program through the end of the decade.[108] The Dragon spacecraft is intended to carry up to seven astronauts into orbit and beyond.[109] It is a conventional blunt-cone ballistic capsule, which is capable of carrying 7 people or a mixture of personnel and cargo to and from low Earth orbit.[109] It is launched atop a Falcon 9 launch vehicle. The spacecraft's nosecone is jettisoned shortly after launch.

In 2006, NASA announced that the company was one of two selected to provide crew and cargo resupply demonstration contracts to the ISS under the COTS program.[110] SpaceX will demonstrate cargo resupply and eventually crew transportation services using the Dragon. NASA's original plan called for COTS demonstration flights between 2008 and 2010.[111][112] SpaceX was not able to meet that schedule, but eventually began test-flights in 2010.

The first flight of a Dragon structural test article took place 4 June 2010, from Launch Complex 40 at Cape Canaveral Air Force Station during the maiden flight of the Falcon 9 launch vehicle; the mock-up Dragon lacked avionics, heat shield, and other key elements normally required of a fully operational spacecraft but contained all the necessary characteristics to validate the flight performance of the launch vehicle.[113] An operational Dragon spacecraft was launched on 8 December 2010 aboard COTS Demo Flight 1, the Falcon 9's second flight, and safely returned to Earth after two orbits, completing all its mission objectives.[99] In 2012, Dragon began conducting regular resupply services to the ISS with a contract for 12 flights.

In 2009 and 2010, Musk suggested on several occasions that plans for a human-rated variant of Dragon were proceeding and had a 2- to 3-year time line to completion.[114][115] On 18 April 2011, NASA issued a $75 million contract, as part of its second-round commercial crew development (CCDev) program, for SpaceX to develop an integrated launch escape system for Dragon in preparation for human-rating it as a crew transport vehicle to the ISS.[116] This Space Act Agreement runs from April 2011 until May 2012, when the next round of contracts are to be awarded.[116] NASA approved the technical plans for the system in October 2011, and SpaceX began building prototype hardware.[75][[]][thông tin ngày]

Các ý tưởng khác đang trọng giai đoạn phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Several modifications or additions to the Falcon rocket family are currently being developed by SpaceX. These include three vehicles that further technology development objectives toward reusable launch systems: the Grasshopper test vehicle and the commercial launch vehicles Reusable Falcon 9 and Reusable Falcon Heavy.

DragonFly is a test vehicle to develop propulsive and propulsive-assist landing technologies in a series of low-altitude flight tests planned to be conducted in 2014–2015.[117]

A major goal of SpaceX has been to develop a rapidly reusable launch system. (Tính đến tháng 3 2013), the publicly announced aspects of this technology development effort include an active test campaign of the low-altitude, low-speed Grasshopper vertical takeoff, vertical landing (VTVL) technology demonstrator rocket,.[45][46][118] and a high-altitude, high-speed Falcon 9 post-mission booster return test campaign where—beginning in mid-2013, with the sixth overall flight of Falcon 9—every first stage will be instrumented and equipped as a controlled descent test vehicle to accomplish propulsive-return over-water tests.[119] SpaceX COO Gwynne Shotwell said at the Singapore Satellite Industry Forum in summer 2013 "If we get this [reusable technology] right, and we’re trying very hard to get this right, we’re looking at launches to be in the US$5 to 7 million range, which would really change things dramatically." [92]

Comparison of rocket core diameters for SpaceX launch vehicles: (from left) Falcon 9 v1.0 (2010), Falcon 9 v1.1 (2013), and the 10-meter diameter, 9-Raptor, first-stage booster for the Mars Colonial Transporter.

SpaceX has announced the high-level description of a future super-heavy lift launch vehicle that will consist of one or three 10 mét (33 ft)-diameter cores and use nine Raptor LOX/methane engines to power each core.[120][121][122] The MCT launch vehicle is also intended to be reusable and will produce approximately 40 hoặc 120 mêganewtơn (9.000.000 hoặc 27.000.000 lbf) of thrust at liftoff.[121] Development of the Mars Colonial Transporter and its super-heavy launch vehicle will be the major focus of SpaceX once Falcon Heavy and DragonCrew are flying regularly.[122]

Các động cơ tên lửa[sửa | sửa mã nguồn]

Since the founding of SpaceX in 2002, the company has developed three families of rocket enginesMerlin and Kestrel for launch vehicle propulsion, and the Draco RCS control thrusters. SpaceX is currently developing two further rocket engines: SuperDraco and Raptor.

Merlin is a family of rocket engines developed by SpaceX for use on its Falcon rocket family of launch vehicles. Merlin engines use LOX and RP-1 as propellants in a gas-generator power cycle. The Merlin engine was originally designed for sea recovery and reuse. The injector at the heart of Merlin is of the pintle type that was first used in the Apollo Program for the lunar module landing engine. Propellants are fed via a single shaft, dual impeller turbo-pump. Kestrel is a LOX/RP-1 pressure-fed rocket engine, and was used as the Falcon 1 rocket's second stage main engine. It was built around the same pintle architecture as SpaceX's Merlin engine but does not have a turbo-pump, and is fed only by tank pressure. Its nozzle was ablatively cooled in the chamber and throat and radiatively cooled, and is fabricated from a high strength niobium alloy.

Draco are hypergolic liquid-propellant rocket engines that utilize a mixture of monomethyl hydrazine fuel and nitrogen tetroxide oxidizer. Each Draco thruster generates 400 newtơn (90 lbf) of thrust.[123] They are used as reaction control system (RCS) thrusters on both the Dragon spacecraft and the Falcon 9 launch vehicle second-stage.[124] SuperDraco are a much more powerful version of the Draco thrusters, which will be initially used as launch escape system engines on the version 2 Dragon spacecraft, Dragon V2.

SpaceX has signalled on multiple occasions that it is interested in developing much larger engines than it has done to date. A conceptual plan for the Raptor project was first unveiled in a June 2009 AIAA presentation.[125] In November 2012, Musk announced a new direction for propulsion side of the company: developing methane/LOX rocket engines for launch vehicle main and upper stages.[126] The Raptor methane/LOX engine will use the more efficient staged combustion cycle,[127] a departure from the "'open cycle' gas generator cycle system and LOX/kerosene propellants that the current Merlin 1 engine series uses."[127] The rocket would be more powerful than previously released publicly, with over 1.000.000 lbf (4.400 kN) of thrust.[120] Raptor engine component-level testing will begin in 2014.[128] The Raptor engine will likely be the first in a family of methane-based engines SpaceX intends to build.[128]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Gwynne Shotwell: Executive Profile & Biography”. Business Week (New York: Bloomburg). 1 tháng 12 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2011. 
  2. ^ Hennigan, W.J. (7 tháng 6 năm 2013). “How I Made It: SpaceX exec Gwynne Shotwell”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2013. 
  3. ^ SpaceX Tour - Texas Test Site, spacexchannel, 11 tháng 11 năm 2010, truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2012 
  4. ^ Foust, Jeff (16 tháng 10 năm 2013). “Gwynne Shotwell says that SpaceX is now up to about 3,800 employees, counting contractors working for the company.”. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2013. 
  5. ^ “NASA Selects Crew and Cargo Transportation to Orbit Partners” (Thông cáo báo chí). NASA. 18 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2006. 
  6. ^ “NASA Mission Set Database”. NASA. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2010. 
  7. ^ Chow, Denise (18 tháng 4 năm 2011). “Private Spaceship Builders Split Nearly $270 Million in NASA Funds”. Space.com (New York). Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2011. 
  8. ^ Rowe, Aaron (14 tháng 7 năm 2009). “SpaceX Launch Successfully Delivers Satellite Into Orbit”. Wired Science. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2009. 
  9. ^ “Falcon Heavy Overview”. SpaceX. 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2011. 
  10. ^ Wall, Mike (31 tháng 7 năm 2011). “'Red Dragon' Mission Mulled as Cheap Search for Mars Life”. SPACE.com. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2011. 
  11. ^ Wayne, Leslie (5 tháng 2 năm 2006). “A Bold Plan to Go Where Men Have Gone Before”. New York Times. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2009. 
  12. ^ “Surrey Satellite Technology Limited sells stake to SpaceX” (Thông cáo báo chí). SpaceX. 12 tháng 1 năm 2005. 
  13. ^ Shanklin, Emily (4 tháng 8 năm 2008). “SpaceX receives $20 million investment from Founder's Fund” (Thông cáo báo chí). SpaceX. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2008. 
  14. ^ Melby, Caleb (12 tháng 3 năm 2012). “How Elon Musk Became A Billionaire Twice Over”. forbes.com. 
  15. ^ “Elon Musk Anticipates Third IPO in Three Years With SpaceX”. businessweek.com. 10 tháng 2 năm 2012. 
  16. ^ “Elon Musk on Why SpaceX Has the Right Stuff to Win the Space Race”. CNBC. 27 tháng 4 năm 2012. 
  17. ^ “Privately-held SpaceX Worth Nearly $2.4 Billion or $20/Share, Double Its Pre-Mission Secondary Market Value Following Historic Success at the International Space Station”. Privco. 7 tháng 6 năm 2012. 
  18. ^ “SpaceX’s worth skyrockets to $4.8B after successful mission”. venturebeat. 10 tháng 6 năm 2012. 
  19. ^ “Elon Musk Anticipates Third IPO in Three Years With SpaceX”. Bloomberg. 11 tháng 2 năm 2012. 
  20. ^ a ă â Schaefer, Steve (6 tháng 6 năm 2013). “SpaceX IPO Cleared For Launch? Elon Musk Says Hold Your Horses”. Forbes. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2013. 
  21. ^ Foust, Jeff (14 tháng 11 năm 2005). “Big plans for SpaceX”. The Space Review. 
  22. ^ “Diane Murphy joins SpaceX as Vice President of Marketing and Communications” (Thông cáo báo chí). SpaceX. 10 tháng 7 năm 2008. 
  23. ^ Hennigan, W. (21 tháng 5 năm 2012). “SpaceX Again Ready to Blast off After Last-second Launch Abort”. MSNBC. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2012. 
  24. ^ “CRS-2 Press Kit”. NASA. 25 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013. 
  25. ^ Messier, Doug (16 tháng 10 năm 2013). “ISPCS Morning Session: Gwynne Shotwell of SpaceX”. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2013. “Gwynne Shotwell says that SpaceX is now up to about 3,800 employees, counting contractors working for the company.... 600 more people to hire in next couple months. Finding good software people the hardest skills to fill. 
  26. ^ “Space Exploration Technologies Corporation - press”. spacex.com. SpaceX. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2012. 
  27. ^ Klotz, Irene (8 tháng 12 năm 2010). “SpaceX's Dragon Capsule Returns Safely To Earth”. Discovery News (Silver Spring, Maryland: Discovery Communications). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2010. 
  28. ^ “Space Foundation Names SpaceX and Télécoms Sans Frontières as Recipients of 2011 Space Achievement Awards” (Thông cáo báo chí). Colorado Springs, Colorado. 16 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2011. 
  29. ^ “Elon Musk — Senate Testimony, 5 May 2004”. SpaceX. 4 tháng 5 năm 2004. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2008. 
  30. ^ a ă “Elon Musk: I'll Put a Man on Mars in 10 Years”. Market Watch (New York: The Wall Street Journal). 22 tháng 4 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2011. 
  31. ^ “Former astronaut Bowersox joins SpaceX as Vice President of Astronaut Safety and Mission Assurance” (Thông cáo báo chí). SpaceX. 16 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2009. 
  32. ^ Leone, Dan (18 tháng 1 năm 2012). “SpaceX Safety VP Quit Late Last Year”. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2012. 
  33. ^ Gwynne Shotwell. (21 tháng 3 năm 2014) (mp3). Broadcast 2212: Special Edition, interview with Gwynne Shotwell. [audio file]. The Space Show. Event occurs at 41:20–42:. 2212. Bản gốc từ bản gốc lưu ngày 2014-03-22. http://www.thespaceshow.com/detail.asp?q=2212. Truy cập 22 tháng 3 năm 2014. 
  34. ^ a ă Engel, Max (1 tháng 3 năm 2013). “Launch Market on Cusp of Change”. Satellite Today. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2013. “SpaceX không phải là công ty tư nhân đầu tiên thử thay đổi thị trường phóng tên lửa thương mại. Tuy nhiên, công ty xuất hiện với những động thái thật sự. Bằng nguồn vốn tư nhân, công ty chỉ có một tên lửa đẩy trước khi họ nhận được đầu tư từ NASA, và trong khi nguồn tiền dành cho việc tái cung cấp cho trạm không gian của NASA đang tăng cao, SpaceX sẽ không cần đến điều đó. 
  35. ^ “SpaceX overview on secondmarket”. SecondMarket. 
  36. ^ a ă Watts, Jane (27 tháng 4 năm 2012). “Elon Musk on Why SpaceX Has the Right Stuff to Win the Space Race”. CNBC. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2012. 
  37. ^ Boeing, SpaceX big winners in NASA competition for new spacecraft
  38. ^ “NASA Announces Next Steps In Effort To Launch Americans From U.S. Soil”. Press Release. NASA. 3 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2012. 
  39. ^ “Company overview: Advancing the future”. company website. SpaceX. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2012. 
  40. ^ a ă Dean, James (4 tháng 12 năm 2013). “SpaceX makes its point with Falcon 9 launch”. USA Today. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2013. 
  41. ^ a ă â b c Stephen Clark (3 tháng 12 năm 2013). “Falcon 9 rocket launches first commercial telecom payload”. Spaceflight Now. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2013. 
  42. ^ a ă Stephen Clark (24 tháng 11 năm 2013). “Sizing up America's place in the global launch industry”. Spaceflight Now. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2013. 
  43. ^ DeCambre, Mark (2 tháng 4 năm 2013). “Here’s another thing billionaire Elon Musk’s SpaceX is looking to launch: a new funding round”. Quartz. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2013. 
  44. ^ “Inside SpaceX: We Visit the Company's California Headquarters”. 
  45. ^ a ă Mohney, Doug (26 tháng 9 năm 2011). “SpaceX Plans to Test Reusable Suborbital VTVL Rocket in Texas”. Satellite Spotlight. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2011. 
  46. ^ a ă “Reusable rocket prototype almost ready for first liftoff”. Spaceflight Now. 9 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2012. “SpaceX has constructed a half-acre concrete launch facility in McGregor, and the Grasshopper rocket is already standing on the pad, outfitted with four insect-like silver landing legs. 
  47. ^ a ă Paur, Jason (10 tháng 10 năm 2012). “Inside SpaceX’s Texas Rocket-Testing Facility”. Wired. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2012. 
  48. ^ Lindsey, Clark (7 tháng 5 năm 2013). “SpaceX to test Grasshopper reusable booster at Spaceport America in NM”. NewSpace Watch. Truy cập ngày 7 tháng 5 năm 2013. (cần đăng ký). 
  49. ^ a ă “SpaceX Joining Virgin Galactic at Spaceport America”. Sci-Tech Today. 8 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2013. “SpaceX will be paying $6,600 a month to lease a mobile mission control facility and will pay the state $25,000 per launch. 
  50. ^ Leone, Dan (13 tháng 5 năm 2013). “SpaceX Leases Pad in New Mexico for Next Grasshopper Tests”. SpaceNews. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2013. 
  51. ^ Klotz, Irene (2 tháng 8 năm 2013). “SpaceX Appetite for U.S. Launch Sites Grows”. Space News. Truy cập ngày 5 tháng 9 năm 2013. 
  52. ^ Dean, James (3 tháng 4 năm 2013). “Proposed Shiloh launch complex at KSC debated in Volusia”. Florida Today. Truy cập ngày 6 tháng 4 năm 2013. 
  53. ^ “Details Emerge on SpaceX's Proposed Texas Launch Site”. Space News. 16 tháng 4 năm 2012. tr. 24. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2013. “SpaceX is considering multiple potential locations around the country for a new commercial launch pad.... The Brownsville area is one of the possibilities. 
  54. ^ Rush, Johna Strickland (15 tháng 11 năm 2012). “Spaceport could land in Camden”. Tribune & Georgian. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2012. 
  55. ^ Perez-Trevino, Emma (13 tháng 9 năm 2012). “Sanchez: Texas offering $6M, Florida giving $10M”. Brownsville Herald. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2012. 
  56. ^ a ă Martinez, Laura B. (15 tháng 4 năm 2013). “FAA shares SpaceX EIS report”. The Brownsville Herald. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2013. “'no impacts would occur' that would force the Federal Aviation Administration to deny SpaceX a permit for rocket operations near Brownsville. 
  57. ^ Foust, Jeff (1 tháng 4 năm 2013). “The great state space race”. The Space Review. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2013. 
  58. ^ Beutel, Allard (13 tháng 12 năm 2013). “NASA Selects SpaceX to Begin Negotiations for Use of Historic Launch Pad”. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2013. 
  59. ^ Matthews, Mark K. (18 tháng 8 năm 2013). “Musk, Bezos fight to win lease of iconic NASA launchpad”. Orlando Sentinel. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2013. 
  60. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n “Leadership”. SpaceX corporate website. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2014. 
  61. ^ “SEC Notice of Exempt Offering of Securities”. SEC EDGAR Database. U.S. Securities and Exchange Commission. 9 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2014. 
  62. ^ “Space Exploration Technologies”. BuzzSparks. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2014. 
  63. ^ “DFJ Team Member Information”. DJF Enterprises. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2014. 
  64. ^ “SpaceX wins NASA COTS contract to demonstrate cargo delivery to Space Station with option for crew transport” (Thông cáo báo chí). SpaceX. 18 tháng 8 năm 2006. 
  65. ^ “Remarks by Alan Lindenmoyer, Manager, NASA Commercial Crew & Cargo Program”. Minutes of the NAC Commercial Space Committee. NASA. 26 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2010. 
  66. ^ “NASA selects SpaceX's Falcon 9 booster and Dragon spacecraft for cargo resupply services to the International Space Station” (Thông cáo báo chí). SpaceX. 23 tháng 12 năm 2008. 
  67. ^ a ă “COTS contract”. NASA. Truy cập ngày 30 tháng 12 năm 2010. 
  68. ^ “Mission Status Center”. SpaceFlightNow. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2010. 
  69. ^ a ă Bates, Daniel (9 tháng 12 năm 2010). “Mission accomplished! SpaceX Dragon becomes the first privately funded spaceship launched into orbit and guided back to earth”. The Daily Mail (London). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 7 năm 2011. 
  70. ^ Carreau, Mark (20 tháng 7 năm 2011). “SpaceX Station Cargo Mission Planned”. Aviation Week. New York: The McGraw-Hill Companies, Inc. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2011. 
  71. ^ Ray, Justin (9 tháng 12 năm 2011). “SpaceX demo flights merged as launch date targeted”. Tonbridge, Kent, United Kingdom: Spaceflight Now Inc. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2011. 
  72. ^ Chow, Denise (16 tháng 1 năm 2012). “1st Private Rocket Launch to Space Station Delayed”. Space.com (New York). Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2012. 
  73. ^ McGarry, Brendan. “SpaceX Becomes First Company to Dock Ship at Space Station”. The San Francisco Chronicle. 
  74. ^ Chang, Kenneth (22 tháng 5 năm 2012). “Private Cargo Rocket Heads to Space Station”. The New York Times. 
  75. ^ a ă Staff (28 tháng 10 năm 2011). “Private Space Taxi's Crew Escape System Passes Big Hurdle”. Space.com. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2011. 
  76. ^ “SpaceX Proposal for Commercial Crew Development Round 2”. NASA. 2011. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012. 
  77. ^ Morring, Frank, Jr. (22 tháng 4 năm 2011). “Five Vehicles Vie To Succeed Space Shuttle”. Aviation Week. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2011. “the CCDev-2 awards,... went to Blue Origin, Boeing, Sierra Nevada Corp. and Space Exploration Technologies Inc. (SpaceX). 
  78. ^ Rosenberg, Zach (2 tháng 3 năm 2012). “SpaceX finishes crucial dress rehearsal before space station launch”. FlightGlobal. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2012. 
  79. ^ “NASA Announces Next Steps in Effort to Launch Americans from U.S. Soil”. NASA. 3 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2012. 
  80. ^ Wall, Mike (31 tháng 7 năm 2011). “'Red Dragon' Mission Mulled as Cheap Search for Mars Life”. SPACE.com. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2011. 
  81. ^ “SpaceX Awarded $100 Million Contract From U.S. Air Force for Falcon I” (Thông cáo báo chí). SpaceX. 2 tháng 5 năm 2005. 
  82. ^ a ă â “NASA Awards Launch Services Contract to SpaceX” (Thông cáo báo chí). NASA. 22 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2008. 
  83. ^ Lindsay, Clark (5 tháng 12 năm 2012). “SpaceX awarded 2 EELV-Class missions from the USAF”. NewSpace Watch. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2012. (cần đăng ký). 
  84. ^ a ă Klotz, Irene (15 tháng 3 năm 2011). “SpaceX Wins An SES Satellite Launch”. Aviation Week. 
  85. ^ “SpaceX seals biggest-ever commercial launch deal”. flightglobal. 2010. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2010. 
  86. ^ Amos, Jonathan (3 tháng 12 năm 2013). “SpaceX launches SES commercial TV satellite for Asia”. BBC News. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2013. “The commercial market for launching telecoms spacecraft is tightly contested, but has become dominated by just a few companies - notably, Europe's Arianespace, which flies the Ariane 5, and International Launch Services (ILS), which markets Russia's Proton vehicle. SpaceX is promising to substantially undercut the existing players on price, and SES, the world's second-largest telecoms satellite operator, believes the incumbents had better take note of the California company's capability. 'The entry of SpaceX into the commercial market is a game-changer' 
  87. ^ de Selding, Peter B. (25 tháng 11 năm 2013). “SpaceX Challenge Has Arianespace Rethinking Pricing Policies”. Space News. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2013. “The Arianespace commercial launch consortium is telling its customers it is open to reducing the cost of flights for lighter satellites on the Ariane 5 rocket in response to the challenge posed by SpaceX’s Falcon 9 rocket. 
  88. ^ Svitak, Amy (11 tháng 2 năm 2014). “Arianespace To ESA: We Need Help”. Aviation Week. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2014. 
  89. ^ Belfiore, Michael (9 tháng 12 năm 2013). “The Rocketeer”. Foreign Policy. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2013. 
  90. ^ Svitak, Amy (10 tháng 3 năm 2014). “SpaceX Says Falcon 9 To Compete For EELV This Year”. Aviation Week. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2014. “Advertised at $56.5 million per launch, Falcon 9 missions to GTO cost almost $15 million less than a ride atop a Chinese Long March 3B 
  91. ^ a ă de Selding, Peter B. (14 tháng 4 năm 2014). “Satellite Operators Press ESA for Reduction in Ariane Launch Costs”. SpaceNews. Truy cập ngày 15 tháng 4 năm 2014. 
  92. ^ a ă Messier, Doug (14 tháng 1 năm 2014). “Shotwell: Reusable Falcon 9 Would Cost $5 to $7 Million Per Launch”. Parabolic Arc. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2014. 
  93. ^ a ă Money, Stewart (30 tháng 1 năm 2013). “SpaceX Wins New Commercial Launch Order”. Innerspace.net. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2013. 
  94. ^ Messier, Doug (18 tháng 1 năm 2014). “ESA Faces Large Cost for Ariane 5 Upgrade, New Ariane 6 Rocket”. Parabolic Arc. 
  95. ^ Gwynne Shotwell. (21 tháng 3 năm 2014) (mp3). Broadcast 2212: Special Edition, interview with Gwynne Shotwell. [audio file]. The Space Show. Event occurs at 07:15–08:00. 2212. Bản gốc từ bản gốc lưu ngày 2014-03-22. http://www.thespaceshow.com/detail.asp?q=2212. Truy cập 22 tháng 3 năm 2014. 
  96. ^ “Falcon 1 Overview”. SpaceX. 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2011. 
  97. ^ a ă â b “Falcon 9 Overview”. SpaceX. 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2011. 
  98. ^ Wade, Mark (2011). “Falcon 5”. Encyclopedia Astronautica. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2011. 
  99. ^ a ă “Private space capsule's maiden voyage ends with a splash”. BBC News (London). 8 tháng 12 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2011. 
  100. ^ “SpaceX Successfully Launches Falcon 1 To Orbit” (Thông cáo báo chí). SpaceX. 28 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2008. 
  101. ^ Rowe, Aaron (14 tháng 7 năm 2009). “SpaceX Launch Successfully Delivers Satellite Into Orbit”. Wired Science. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2009. 
  102. ^ “SpaceX announces the Falcon 9 fully reusable heavy lift launch vehicle” (Thông cáo báo chí). SpaceX.com. 8 tháng 9 năm 2005. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2009. 
  103. ^ Canadian Press (22 tháng 5 năm 2012). “Private SpaceX rocket blasts off for space station Cargo ship reaches orbit 9 minutes after launch”. CBC News (Toronto). Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2012. 
  104. ^ “Falcon Heavy Overview”. SpaceX. 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2011. 
  105. ^ Lindsey, Clark (4 tháng 1 năm 2013). “NewSpace flights in 2013”. NewSpace Watch. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2013. (cần đăng ký). 
  106. ^ "Falcon Heavy: World's most powerful rocket", The Economic Times, 7 April 2011.
  107. ^ “Falcon Heavy”. SpaceX. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2013. 
  108. ^ Belfiore, Michael (18 tháng 1 năm 2005). “Race for Next Space Prize Ignites”. Wired.com. 
  109. ^ a ă Cowing, Keith (6 tháng 3 năm 2006). “The SpaceX Dragon: America's First Privately Financed Manned Orbital Spacecraft?”. SpaceRef.com. 
  110. ^ “NASA selects crew, cargo launch partners”. Spaceflight Now. 18 tháng 8 năm 2006. 
  111. ^ Boyle, Alan (18 tháng 8 năm 2006). “SpaceX, Rocketplane win spaceship contest”. MSNBC. 
  112. ^ “NASA Selects Crew and Cargo Transportation to Orbit Partners” (Thông cáo báo chí). NASA. 18 tháng 8 năm 2006. 
  113. ^ “COTS Demo Flight 1 Press Kit”. SpaceX. 
  114. ^ This Week in Space interview with Elon Musk. Spaceflight Now. 24 tháng 1 năm 2010. http://www.youtube.com/watch?v=ifwFa5DtIps&feature=player_embedded. 
  115. ^ Elon Musk's SpaceX presentation to the Augustine panel. YouTube. 2009. http://www.youtube.com/watch?v=O81Zq02eStg. 
  116. ^ a ă Chow, Denise (18 tháng 4 năm 2011). “Private Spaceship Builders Split Nearly $270 Million in NASA Funds”. Space.com (New York). Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2011. 
  117. ^ Boyle, Alan (21 tháng 5 năm 2015). “Elon Musk's SpaceX Plans DragonFly Landing Tests”. NBC News. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2015. 
  118. ^ Klotz, Irene (27 tháng 9 năm 2011). “A rocket that lifts off — and lands — on launch pad”. MSNBC. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2011. 
  119. ^ Lindsey, Clark (28 tháng 3 năm 2013). “SpaceX moving quickly towards fly-back first stage”. NewSpace Watch. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2013. (cần đăng ký). 
  120. ^ a ă “SpaceX propulsion chief elevates crowd in Santa Barbara”. Pacific Business Times. 19 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2014. 
  121. ^ a ă Belluscio, Alejandro G. (7 tháng 3 năm 2014). “SpaceX advances drive for Mars rocket via Raptor power”. NASAspaceflight.com. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2014. 
  122. ^ a ă Gwynne Shotwell. (21 tháng 3 năm 2014) (mp3). Broadcast 2212: Special Edition, interview with Gwynne Shotwell. [audio file]. The Space Show. Event occurs at 20:00–21:10 and 22:15–22:35. 2212. Bản gốc từ bản gốc lưu ngày 2014-03-22. http://www.thespaceshow.com/detail.asp?q=2212. Truy cập 22 tháng 3 năm 2014. 
  123. ^ “SpaceX Updates — December 10, 2007”. SpaceX. 10 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 26 tháng 12 năm 2012. 
  124. ^ “Falcon 9 Launch Vehicle Payload User’s Guide, 2009”. SpaceX. 2009. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2013. 
  125. ^ “Long term SpaceX vehicle plans”. HobbySpace.com. 7 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2009. 
  126. ^ Todd, David (20 tháng 11 năm 2012). “Musk goes for methane-burning reusable rockets as step to colonise Mars”. FlightGlobal Hyperbola. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2012. ‘"We are going to do methane." Musk announced as he described his future plans for reusable launch vehicles including those designed to take astronauts to Mars within 15 years, "The energy cost of methane is the lowest and it has a slight Isp (Specific Impulse) advantage over Kerosene," said Musk adding, "And it does not have the pain in the ass factor that hydrogen has". 
  127. ^ a ă Todd, David (22 tháng 11 năm 2012). “SpaceX’s Mars rocket to be methane-fuelled”. Flightglobal. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2012. ‘Musk said Lox and methane would be SpaceX’s propellants of choice on a mission to Mars, which has long been his stated goal. SpaceX’s initial work will be to build a Lox/methane rocket for a future upper stage, codenamed Raptor. The design of this engine would be a departure from the "open cycle" gas generator system that the current Merlin 1 engine series uses. Instead, the new rocket engine would use a much more efficient "staged combustion" cycle that many Russian rocket engines use. 
  128. ^ a ă Leone, Dan (25 tháng 10 năm 2013). “SpaceX Could Begin Testing Methane-fueled Engine at Stennis Next Year”. Space News. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:SpaceX Bản mẫu:Space tourism Bản mẫu:Elon Musk