SpaceX

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
SpaceX
SpaceX logo.svg

Tập đoàn công nghệ khai phá không gian.
Loại hình Công ty tư nhân
Ngành nghề Kỹ thuật hàng không vũ trụ
Thành lập 2002
Nhà sáng lập Elon Musk
Trụ sở chính Hawthorne, California, USA
Thành viên
chủ chốt
Elon Musk (Nhà sáng lập, CEO và Thiết kế trưởng)
Gwynne Shotwell (President và COO)[1][2]
Tom Mueller (VP of Propulsion)[3]
Dịch vụ Phi thuyền quỹ đạo, Tên lửa đẩy
Nhân viên 3,800 (Tháng 10,2013)[4]
Website SpaceX.com

Tập đoàn Công nghệ Khai phá Không gian, viết tắt theo tiếng Anh SpaceX, là một công ty tư nhân về vận chuyển trong không gian có trụ sở tại Hawthorne, California. Công ty được thành lập năm 2002 bởi Elon Musk, một trong những doanh nhân đã sáng lập công ty PayPal. SpaceX đã phát triển các tên lửa đẩy Falcon 1Falcon 9 với mục đích trở thành các tên lửa có thể tái sử dụng được. Công ty cũng đang phát triển tàu không gian Dragon được phóng lên quỹ đạo nhờ tên lửa Falcon 9.

Để kiểm soát chất lượng và chi phí, công ty SpaceX thực hiện quá trình thiết kế, lắp ráp và vận hành thử các thành phần chính của tên lửa và tàu không gian ở trong nhà xưởng, bao gồm các động cơ tên lửa Merlin, Kestrel, và động cơ Draco sử dụng trên tên lửa Falcon và tàu Dragon. Năm 2006, cơ quan NASA đã trao hợp đồng Dịch vụ vận chuyển thương mại quỹ đạo (COTS) cho công ty để thiết kế, chế tạo và phóng một tàu vận chuyển hàng hóa nhằm cung cấp cho Trạm vũ trụ quốc tế (ISS).[5] Ngày 9 tháng 12 năm 2010, SpaceX phóng thành công chuyến bay thử nghiệm lần 1 trong COTS, trở thành công ty tư nhân đầu tiên phóng thành công một tàu không gian lên quỹ đạo và sau đó thực hiện trở lại mặt đất an toàn.[6]

NASA cũng trao cho SpaceX một hợp đồng nhằm phát triển và thực hiện chương trình Phát triển đội bay thương mại bằng tàu Dragon nhằm đưa các nhóm phi hành gia lên ISS. SpaceX đang có kế hoạch sẽ đưa các phi hành gia lên quỹ đạo bằng Dragon/Falcon9 lần đầu tiên vào năm 2015 một khi công ty được công nhận có khả năng đưa người lên quỹ đạo.[7]

Bên cạnh các hợp đồng của NASA, SpaceX cũng nhận được hợp đồng với các công ty tư nhân khác, các cơ quan chính phủ ngoài Hoa Kỳ và từ quân đội Hoa Kỳ để thực hiện các đợt phóng. Công ty đã thực hiện một vụ phóng vệ tinh lên quỹ đạo thấp cho khách hàng bằng tên lửa Falcon 1 vào năm 2009.[8] Công có kế hoạch phóng vệ tinh địa tĩnh thương mại đầu tiên vào năm 2013 bằng tên lửa Falcon 9.

Tên lửa Falcon 9 của SpaceX mang theo tàu Dragon, phóng lên ngày 8 tháng 12 2010. Tên lửa Falcon 9 của SpaceX mang theo tàu Dragon, phóng lên ngày 8 tháng 12 2010.
Tên lửa Falcon 9 của SpaceX mang theo tàu Dragon, phóng lên ngày 8 tháng 12 2010.

Các dự án tương lai đang trong giai đoạn dự định hoặc phát triển bao gồm phát triển tên lửa Falcon Heavy[9], cũng như đưa một robot của NASA lên Sao Hỏa vào năm 2018.[10] Tên lửa Heavy có công nghệ dựa trên Falcon 9, và nếu nó được xây dựng như kế hoạch nó sẽ trở thành một trong những tên lửa mạnh nhất trong lịch sử thám hiểm vũ trụ của Hoa Kỳ kể từ thời kỳ chương trình Apollo với tên lửa Saturn V. Falcon Heavy có thể được sử dụng để đưa các nhà du hành trong tàu Dragon lên quỹ đạo quanh Mặt Trăng – như phi vụ Apollo 8; hoặc để phóng một phiên bản thay đổi của Dragon với không người lái lên Sao Hỏa. Musk đã đặt ra mục tiêu cho công ty nhằm giúp tạo ra sự có mặt ổn định của con người trên Sao Hỏa.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trụ sở của công ty, đặt tại Hawthorne, California.

SpaceX được sáng lập tháng 6/2002 bởi người đống sáng lập PayPalTesla Motors: Elon Musk, bởi ông muốn làm nhiều điều với tài sản của mình hơn là nghỉ ngơi hay làm từ thiện, và lĩnh vực vận tải không gian an toàn giá rẻ đang là một thị trường đầy cơ hội cần được khai thác tại Mỹ. Tầm nhìn của ông là chế tạo một tên lửa tái sử dụng tương đôi rẻ và đơn giản có thể bay vào không gian nhiều lần, tương tự khả năng bay khứ hồi mà các máy bay thương mại đang hoạt động. Tháng 3/2006, Musk đã đầu tư 100 triệu $ vào công ty.[11]

Tháng 1/2005, SpaceX đã mua 10% cổ phần của hãng Surrey Satellite Technology Ltd.[12] Ngày 4/8/2008, SpaceX nhận khoản đầu tư $20 million từ quỹ Founders Fund.[13] Đầu năm 2012, xấp xỉ 2/3 công ty được sở hữu bởi nhà sáng lập[14] và 70 triệu cổ phần của ông ước tính có giá trị 875 triệu $,[15] giá trị của SpaceX khoảng 1.3 tỷ đô vào tháng 2/2012.[16] Sau chuyến bay của phi thuyền Dragon C2+ tháng 5/2012, giá trị vốn hóa tư nhân của công ty tăng gần gấp đôi lên 2.4 tỷ $.[17][18] Năm 2012, Musk nhận thấy có thể tiến hành một IPO vào năm 2013,[19] nhưng sau đó ông đã thông báo vào tháng 6/2013 rằng ông có kế hoạch tạm dừng IPO cho đến sau khi chương trình vận tải "Mars Colonial Transporter chính thức đi vào hoạt động."[20]

Công ty đã phát triển nhanh chóng kể từ khi được sáng lập năm 2002, phát triển từ 160 nhân viên tháng 11/2005 lên tới 500 tháng 7/2008, trên 1,100 năm 2010,[21][22] 1800 in early 2012,[23] và 3,000 vào đầu năm 2013.[24] Đến tháng 10/2013, công ty đã phát triển tới 3,800 nhân viên chính thức và hợp đồng.[25]

Musk tin rằng giá thành cao của các dịch vụ phóng vào không gian là do dành một phần vào hệ thống hành chính quan liêu không cần thiết. Ông tuyên bố rằng một trong những mục tiêu của ông là cải thiện chi phí và sự tin tưởng cho các chuyến bay vào không gian, gấp 10 lần hiện nay.[26] SpaceX trở thành công ty tư nhân đầu tiên phóng và đưa tàu vũ trụ từ quỹ đạo trở về thành công vào 8/12/2010, sau khi phi thuyền Dragon trở về sau capsule returned from a two-orbit flight.[27] Space Foundation recognized SpaceX for its successful Dragon launch and recovery with the Space Achievement Award in 2011.[28]

Nguồn vốn[sửa | sửa mã nguồn]

SpaceX là một công ty vận tải không gian được xây dựng bằng nguồn vốn tư nhân.[29] Công ty đã chế tạo dòng tên lửa đầu tiên —Falcon 1— và ba dòng động cơ tên lửa Merlin, Kestrel, và Draco— hoàn toàn bằng nguồn vốn tư nhân. SpaceX đã ký hợp đồng với chính quyền liên bang của chính phủ Mỹ sử dụng một phần quỹ phát triển cho tên lửa Falcon 9, dòng tên lửa sử dụng động cơ Merlin rocket engine.[29] SpaceX đang phát triển tên lửa đẩy Falcon Heavy, sử dụng động cơ Raptor, và tổ hợp công nghệ tên lửa đẩy có khả năng tái sử dụng bằng nguồn vốn tư nhân.

(Tính đến tháng 5 2012), SpaceX đã hoạt động với nguồn vốn xấp xỉ 1 tỷ $ trong 10 năm hoạt động đầu tiên của hãng. Trong số này, nguồn vốn tư nhân vào khoảng 200 triệu $, gồm Musk đầu tư xấp xỉ 100 triệu $ và các nhà đầu tư còn lại 100 triệu $ (các quỹ Founders Fund, Draper Fisher Jurvetson,...).[30] Tháng 5/2012, SpaceX đã có hợp đồng cho 40 lần phóng, và mỗi hợp đồng trong số này cấu kiện của tên lửa đẩy được chế tạo cho nhiệm vụ phóng nâng cao, bằng các quy tắc kiểm toán Mỹ cho các hợp đồng dài hạn.[31]

Tháng 8/2012, SpaceX đã ký một hợp đồng phát triển lớn với NASA để thiết kế và phát triển phi thuyền chở người cho "thế hệ kế tiếp cho phi thuyền có khả năng chở người của Hoa Kỳ", để tái khởi động việc đưa các nhà du hành vào không gian trên đất Mỹ từ năm 2017. Hai công ty khác, Boeing và Sierra Nevada Corporation, nhận được các hợp đồng phát triển tương tự. Một phần của thỏa thuận này, SpaceX đã nhận được một hợp đồng trị giá 440 triệu $ cho các chuyến tiếp tế hàng hóa lên ISS trong khoảng từ 2012 đến tháng 5/2014.[32][33]

Cuối năm 2012, SpaceX đã có hơn 40 lần phóng trên sổ sách kê khai khoảng 4 tỷ $ doanh thu từ hợp đồng — với nhiều trong số các hợp đồng này đang trong quá trình thanh toán cho SpaceX— gồm cả những khách hàng thương mại và chính quyền liên bang.[34] (Tính đến tháng 12 2013), SpaceX đã có 50 chuyến phóng tên lửa trong hợp đồng, hai phần ba số đó là các khách hàng thương mại.[35][36] Cuối năm 2013, truyền thông ngành công nghiệp không gian bắt đầu bình luận về sự kiên chi phí chế tạo của SpaceX thấp hơn các đối thủ cạnh tranh chính trong thị trường phóng vệ tinh thương mại — Ariane 5Proton[37]—at which time SpaceX had at least 10 further geostationary orbit flights on its books.[36]

Giám đốc điều hành của SpaceX là Musk thông báo trong tháng 6/2013 rằng ông có dự định giữ đợt IPO của SpaceX cho đến khi "Con tàu vận tải lên Sao Hỏa thực sự đi vào hoạt động."[20]

Một vòng huy động vốn nhỏ khoảng 50-200 triệu $ đã được tổ chức (tính đến tháng 4 2014).[38]

Hệ thống cơ sở[sửa | sửa mã nguồn]

Trụ sở chính[sửa | sửa mã nguồn]

SpaceX có trụ sở đặt ở ngoại ô thành phố Hawthorne của Los Angeles tại số 1 Rocket Road, Hawthorne, California. Một cơ sở lớn, trước đây sử dụng để sản xuất thân máy bay Boeing 747, giờ là trụ sở vũ trụ, điều khiển các sứ mệnh, sản xuất thiết bị của SpaceX. Khu vực là một trong những nơi tập trung lớn nhất của hàng không vũ trụ, với các trụ sở, các nhà máy, chi nhánh ở U.S., bao gồm các khu sản xuất vệ tinh chính của Boeing/McDonnell Douglas, Raytheon, Khu thí nghiệm sức đẩy phản lực của NASA, Lockheed Martin, BAE, Northrop Grumman, và AECOM, etc., với số lượng lớn các kỹ sư hàng không vũ trụ và các sinh viên kỹ thuật tốt nghiệp đại học gần đó. Many of the original NASA space shuttles were built and/or designed in the area, và sân bay quốc tế Los Angeles cũng được đặt trong khu vực.[cần dẫn nguồn] [39]

Cơ sở kiểm tra và tháo dỡ sau chuyến bay[sửa | sửa mã nguồn]

Vận hành chuyến bay[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vực phóng mới dành cho tên lửa thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vực phóng được thuê dành cho các chuyên bay chở người[sửa | sửa mã nguồn]

(Tính đến tháng 12 2013), SpaceX đã đàm phán để thuê Launch Complex 39A ở Trung tâm vũ trụ Kennedy tại Florida, theo quyết định của NASA thuê những khu phức hợp không được sử dụng như một phần của khoản thầu nhằm giảm chi phí bảo trì và hoạt động hãng năm.[40] Gói thầu của SpaceX là sử dụng khu phóng phức hợp dành riêng cho việc hỗ trợ cho các chuyến bay có người trong tương lai.

Ban điều hành[sửa | sửa mã nguồn]

Hợp tác với NASA[sửa | sửa mã nguồn]

Chương trình COTS và CRS[sửa | sửa mã nguồn]

Các chương trình CCDev và CCiCap[sửa | sửa mã nguồn]

Ý tưởng sứ mệnh Sao hỏa "Red Dragon"[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Red Dragon mission

Bổ sung vào kế hoạch huy động nguồn vốn riêng của SpaceX cho sứ mệnh cuối cùng là khai phá Sao Hỏa, (tính đến tháng 7 2011) NASA Ames Research Center đã phát triển một ý tưởng cho sứ mệnh Sao Hỏa với chi phí thấp với việc sử dụng Falcon Heavy là tên lửa đẩy cùng trans-Martian injection vehicle, và Dragon capsule để bay vào khí quyển Sao Hỏa. Ý tưởng, với tên gọi 'Red Dragon', được kêu gọi đầu tư trong năm 2012/2013 với tư cách là một sứ mệnh khám phá của NASA, sẽ phóng lên năm 2018 và đến Sao Hỏa vài tháng sau đó. Mục đích khoa học của sứ mệnh sẽ là tìm kiếm bằng chứng sự sống "các phân tử chứng minh cho sự sống, như DNA hay perchlorate reductase... chứng minh sự sống qua những phân tử sinh học.... Red Dragon sẽ khoan sâu xuống đất, tìm được nguồn băng nước water ice được cho là nằm bên dưới lớp đất đỏ." Chi phí của sứ mệnh dự tính dưới 425,000,000 triệu $, không bao gồm chi phí phóng tàu lên Sao Hỏa.[41][[]][thông tin ngày]

Các hợp đồng khác[sửa | sửa mã nguồn]

Sức ép giá cả và cạnh tranh trong lĩnh vực phóng tên lửa[sửa | sửa mã nguồn]

Các hợp đồng phóng tên lửa với chính phủ và thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

Các phương tiện vận tải không gian[sửa | sửa mã nguồn]

SpaceX’s Falcon 9 rocket carrying the Dragon spacecraft, lifts off during the COTS Demo Flight 1 on 8 December 2010. SpaceX’s Falcon 9 rocket carrying the Dragon spacecraft, lifts off during the COTS Demo Flight 1 on 8 December 2010.
SpaceX’s Falcon 9 rocket carrying the Dragon spacecraft, lifts off during the COTS Demo Flight 1 on 8 December 2010.

SpaceX đang chế tạo hai dòng tên lửa đẩy chính: Falcon 1, có chuyến bay thành công đầu tiên ngày 28/9/2008,[42][43] và dòng tên lửa đẩy nâng cấp (EELV)-class Falcon 9, đã có chuyến bay đầu tiên và thành công vào quỹ đạo ngày 4/10/2010.[43] Dòng Falcon 5 cũng đã lên kế hoạch, nhưng việc phát triển đã dừng lại để tập trung cho dòng Falcon 9.[44] SpaceX cũng đã phát triển phi thuyền Dragon, một phi thuyền quỹ đạo điều áp được phóng lên nhờ tên lửa đẩy Falcon 9, có thể mang theo hàng hóa, và đang trong quá trình thử nghiệm đối với người.[45]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Gwynne Shotwell: Executive Profile & Biography”. Business Week (New York: Bloomburg). 1 tháng 12 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2011. 
  2. ^ Hennigan, W.J. (7 tháng 6 năm 2013). “How I Made It: SpaceX exec Gwynne Shotwell”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2013. 
  3. ^ SpaceX Tour - Texas Test Site, spacexchannel, 11 tháng 11 năm 2010, truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2012 
  4. ^ Foust, Jeff (16 tháng 10 năm 2013). “Gwynne Shotwell says that SpaceX is now up to about 3,800 employees, counting contractors working for the company.”. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2013. 
  5. ^ “NASA Selects Crew and Cargo Transportation to Orbit Partners” (Thông cáo báo chí). NASA. 18 tháng 8 năm 2006. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2006. 
  6. ^ “NASA Mission Set Database”. NASA. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2010. 
  7. ^ Chow, Denise (18 tháng 4 năm 2011). “Private Spaceship Builders Split Nearly $270 Million in NASA Funds”. Space.com (New York). Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2011. 
  8. ^ Rowe, Aaron (14 tháng 7 năm 2009). “SpaceX Launch Successfully Delivers Satellite Into Orbit”. Wired Science. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2009. 
  9. ^ “Falcon Heavy Overview”. SpaceX. 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2011. 
  10. ^ Wall, Mike (31 tháng 7 năm 2011). “'Red Dragon' Mission Mulled as Cheap Search for Mars Life”. SPACE.com. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2011. 
  11. ^ Wayne, Leslie (5 tháng 2 năm 2006). “A Bold Plan to Go Where Men Have Gone Before”. New York Times. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2009. 
  12. ^ “Surrey Satellite Technology Limited sells stake to SpaceX” (Thông cáo báo chí). SpaceX. 12 tháng 1 năm 2005. 
  13. ^ Shanklin, Emily (4 tháng 8 năm 2008). “SpaceX receives $20 million investment from Founder's Fund” (Thông cáo báo chí). SpaceX. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2008. 
  14. ^ Melby, Caleb (12 tháng 3 năm 2012). “How Elon Musk Became A Billionaire Twice Over”. forbes.com. 
  15. ^ “Elon Musk Anticipates Third IPO in Three Years With SpaceX”. businessweek.com. 10 tháng 2 năm 2012. 
  16. ^ “Elon Musk on Why SpaceX Has the Right Stuff to Win the Space Race”. CNBC. 27 tháng 4 năm 2012. 
  17. ^ “Privately-held SpaceX Worth Nearly $2.4 Billion or $20/Share, Double Its Pre-Mission Secondary Market Value Following Historic Success at the International Space Station”. Privco. 7 tháng 6 năm 2012. 
  18. ^ “SpaceX’s worth skyrockets to $4.8B after successful mission”. venturebeat. 10 tháng 6 năm 2012. 
  19. ^ “Elon Musk Anticipates Third IPO in Three Years With SpaceX”. Bloomberg. 11 tháng 2 năm 2012. 
  20. ^ a ă Schaefer, Steve (6 tháng 6 năm 2013). “SpaceX IPO Cleared For Launch? Elon Musk Says Hold Your Horses”. Forbes. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2013. 
  21. ^ Foust, Jeff (14 tháng 11 năm 2005). “Big plans for SpaceX”. The Space Review. 
  22. ^ “Diane Murphy joins SpaceX as Vice President of Marketing and Communications” (Thông cáo báo chí). SpaceX. 10 tháng 7 năm 2008. 
  23. ^ Hennigan, W. (21 tháng 5 năm 2012). “SpaceX Again Ready to Blast off After Last-second Launch Abort”. MSNBC. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2012. 
  24. ^ “CRS-2 Press Kit”. NASA. 25 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013. 
  25. ^ Messier, Doug (16 tháng 10 năm 2013). “ISPCS Morning Session: Gwynne Shotwell of SpaceX”. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2013. “Gwynne Shotwell says that SpaceX is now up to about 3,800 employees, counting contractors working for the company.... 600 more people to hire in next couple months. Finding good software people the hardest skills to fill. 
  26. ^ “Space Exploration Technologies Corporation - press”. spacex.com. SpaceX. Truy cập ngày 15 tháng 12 năm 2012. 
  27. ^ Klotz, Irene (8 tháng 12 năm 2010). “SpaceX's Dragon Capsule Returns Safely To Earth”. Discovery News (Silver Spring, Maryland: Discovery Communications). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 12 năm 2010. 
  28. ^ “Space Foundation Names SpaceX and Télécoms Sans Frontières as Recipients of 2011 Space Achievement Awards” (Thông cáo báo chí). Colorado Springs, Colorado. 16 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2011. 
  29. ^ a ă Engel, Max (1 tháng 3 năm 2013). “Launch Market on Cusp of Change”. Satellite Today. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2013. “SpaceX không phải là công ty tư nhân đầu tiên thử thay đổi thị trường phóng tên lửa thương mại. Tuy nhiên, công ty xuất hiện với những động thái thật sự. Bằng nguồn vốn tư nhân, công ty chỉ có một tên lửa đẩy trước khi họ nhận được đầu tư từ NASA, và trong khi nguồn tiền dành cho việc tái cung cấp cho trạm không gian của NASA đang tăng cao, SpaceX sẽ không cần đến điều đó. 
  30. ^ “SpaceX overview on secondmarket”. SecondMarket. 
  31. ^ Watts, Jane (27 tháng 4 năm 2012). “Elon Musk on Why SpaceX Has the Right Stuff to Win the Space Race”. CNBC. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2012. 
  32. ^ Boeing, SpaceX big winners in NASA competition for new spacecraft
  33. ^ “NASA Announces Next Steps In Effort To Launch Americans From U.S. Soil”. Press Release. NASA. 3 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2012. 
  34. ^ “Company overview: Advancing the future”. company website. SpaceX. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2012. 
  35. ^ Dean, James (4 tháng 12 năm 2013). “SpaceX makes its point with Falcon 9 launch”. USA Today. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2013. 
  36. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên sfn-20131203
  37. ^ Stephen Clark (24 tháng 11 năm 2013). “Sizing up America's place in the global launch industry”. Spaceflight Now. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2013. 
  38. ^ DeCambre, Mark (2 tháng 4 năm 2013). “Here’s another thing billionaire Elon Musk’s SpaceX is looking to launch: a new funding round”. Quartz. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2013. 
  39. ^ “Inside SpaceX: We Visit the Company's California Headquarters”. 
  40. ^ Beutel, Allard (13 tháng 12 năm 2013). “NASA Selects SpaceX to Begin Negotiations for Use of Historic Launch Pad”. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2013. 
  41. ^ Wall, Mike (31 tháng 7 năm 2011). “'Red Dragon' Mission Mulled as Cheap Search for Mars Life”. SPACE.com. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2011. 
  42. ^ “Falcon 1 Overview”. SpaceX. 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2011. 
  43. ^ a ă “Falcon 9 Overview”. SpaceX. 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2011. 
  44. ^ Wade, Mark (2011). “Falcon 5”. Encyclopedia Astronautica. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2011. 
  45. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên BBCLaunchDec2010

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:SpaceX Bản mẫu:Space tourism Bản mẫu:Elon Musk