Tamaudun

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tamaudun (玉陵 (Ngọc Lăng)?) là lăng mộ hoàng gia của vương quốc Lưu Cầu được xây vào năm 1501. Hiện nay, lăng thuộc Shuri, Okinawa [1] Lăng được vua Shō Shin, vị vua thứ ba của Nhà Shō II xây dựng và nằm gần thành Shuri.

Lăng có tổng diện tích là 2.442m²,[2] gồm có hai tường rào đá, ba phòng của lăng mộ hướng về phía bắc và sau lưng là một vách đá tự nhiên ở phía nam.[3] Có một bia đá bên ngoài tường rào tưởng niệm việc xây dựng lăng mộ và ghi tên vua Shō Shin cùng 8 người khác liên quan đến việc xây dựng.[2] Ba phòng của lăng mộ được xếp từ đông sang tây, di hài các quốc vương và vương hậu ở ngăn phía đông còn di hài các hoàng tử và các thành viên hoàng gia còn lại được đặt ở phòng phía tây, phòng giữa dùng cho truyền thông senkotsu của Lưu Cầu;[2][3] tuy nhiên các thi hài chỉ được giữ ở đây trong một hời gian hạn chế, sau đó xương được rửa và đem đi địa táng. The shisa (sư tử đá) bảo vệ lăng mộ là một ví dụ về nghệ thuật điêu khắc đá truyền thống Lưu Cầu. Phong cách kiến trúc của lăng mộ mang nét tượng trưng của hoàng cung đương thời, vốn là một kiến trúc đá với một mái bằng gỗ.[2]

Mười tám vị vua đã được chôn cất tại Tamaudun, cùng với vương hậu và hoàng nhi của họ. Vị vua đầu tiên được chôn cất tại đây là Shō En, tức phụ thân của người đã ra lệnh xây lăng là vua Shō Shin. Thái tử cuối cùng là Shō Ten, hoàng tử của vị vua Lưu Cầu cuối cùng là Shō Tai, đã được chôn ở đây vào ngày 26 tháng 9 năm 1920. Công trình này từng phải hứng chịu thiệt hại nặng nề trong trận Okinawa năm 1945, và bị cướp phá sau đó,[1] song các phần mộ và thi hài hoàng gia vẫn không bị đụng tới, và phần lớn kiến trúc đã được phục hồi trong những năm sau cuộc chiến. Lăng mộ là một Di sản thế giới của UNESCO vào ngày 2 tháng 12 năm 2000 như là một phần của nhóm di tích Các di chỉ Gusuku và di sản liên quan của Vương quốc Lưu Cầu.[2]

Các mộ hoàng gia[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Hình ảnh Tamaudun

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Kerr, George H. Okinawa: The History of an Island People (revised ed.). Tokyo: Tuttle Publishing, 2000. p109.
  2. ^ a ă â b c Official pamphlet obtained on-site
  3. ^ a ă Kadekawa, Manabu. Okinawa Champloo Encyclopedia (沖縄チャンプルー事典). Tokyo: Yama-Kei Publishers, 2001. p56.
  4. ^ Nakamura, Toru. 沖縄の世界遺産玉陵被葬者一覧 (Tamaudun, World Heritage Site of Okinawa - List of Persons Entombed). Thang 10 năm 2005. Truy cập 24 tháng 8 năm 2008.
  5. ^ Đây là một tước hiệu, không phải tên. Người này là phu nhân (gọi là kanashi) của anji (án tư, lãnh chúa) của Aoriya (địa danh).

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tọa độ: 26°13′6″B 127°42′53″Đ / 26,21833°B 127,71472°Đ / 26.21833; 127.71472