Tango (vũ điệu)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tango
Nguồn gốc từ loại nhạc: Habanera, Milonga, Polka
Khởi nguồn từ văn hóa: 1850s-1880s UruguayArgentina
Nhạc cụ điển hình: Bandoneón, dương cầm, ghi-ta, vĩ cầm, đại hồ cầm, giọng nói con người và nhiều cái khác
Thời kỳ chính: các khu vực đô thị công nhân Rioplatense cho đến thập niên 1910; sau đó là các khu vực đô thị tầng lớp thượng và trung lưu có tính quốc tế
Derivative forms: Canyenge, Maxixe, Tango Waltz
Subgenres
Tango Phần Lan, Tango trong phòng khiêu vũ, khúc phóng túng Tango, Tango Nuevo, Tango Argentino, Tango phương đông, Tango Liso, Tango Salon, Tango Orillero, Tango Milonguero
Fusion genres
Tango lựa chọn, Điện tử Tango
Chủ đề khác
nhạc Tango
TangoCouple.jpg
Một cặp nhảy vũ điệu Tango của Argentina

Tango (đọc là tăng-gô) là một thể loại âm nhạc và khiêu vũ kết hợp các hình thức của nó có nguồn gốc tại khu ngoại ô Buenos Aires, ArgentinaMontevideo, Uruguay, và truyền sang phần còn lại của thế giới ngay sau đó. Ðiệu nhảy tango xuất phát từ cuối thế kỷ 19. Ngày 30 tháng 9, 2009, Tango được Liên Hiệp Quốc tuyên bố là một phần của di sản thế giới và cho Argentina cùng với Uruguay sự chứng nhận là nơi phát xuất của điệu nhảy đẹp và cũng gợi tình này.[1][2]

Ban đầu, tango được biết đến là tango criollo, hoặc đơn giản chỉ là tango. Giờ đây, có rất nhiều phong cách nhảy tango, bao gồm tango Ác-hen-ti-na, tango U-ru-goay, tango quốc tế, tango Phần Lan... Mỗi loại phong cách tango có thể gần với phong cách gốc ở Ác-hen-ti-na, hoặc cũng có thể được phát triển theo hướng riêng, phù hợp đặc điểm văn hóa - phong tục từng vùng.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tango là một điệu nhảy có sự ảnh hưởng từ văn hóa Tây Ban Nha và châu Phi. Các điệu nhảy từ những buổi lễ tôn giáo của những người nô lệ gốc Phi đã góp phần hình thành nên điệu Tango hiện đại. Điệu nhảy bắt nguồn từ những khu bình dân ở thành phố Buenos Aires - Ác-hen-ti-na. Âm nhạc của tango lại là một dẫn xuất tổng hợp từ muôn vàn thể loại âm nhạc châu Âu. Từ "tango" dường như lần đầu tiên được sử dụng vào những năm 1890. Ban đầu, nó chỉ như là một trong rất nhiều thể loại nhảy khác, nhưng tango đã sớm trở nên phổ biến rộng rãi trong cộng đồng, từ trong rạp hát cho đến trên đường phố, từ ngoại ô vào khu ổ chuột của tầng lớp lao động, nơi có hàng ngàn dân châu Âu nhập cư, đặc biệt là người dân I-ta-li-a, Tây Ban Nha và Pháp.

Vào đầu thế kỷ 20, các vũ công và nhạc công từ Buenos Aires đã tới châu Âu, ở đó điệu tango châu Âu cuồng nhiệt đầu tiên đã diễn ra ở Pa-ris, rồi sang đến Luân-đôn, Ber-lin và rất nhiều thủ đô khác. Cho đến cuối năm 1913, tango đã đến với thành phố New York, nước Mỹ và Phần Lan. Tại Mỹ, khoảng năm 1911, cái tên "Tango" thường được dùng cho các điệu nhảy một bước có nhịp 2/4 hoặc 4/4. Thuật ngữ này rất phổ biến và không hề có ý nhắc tới các bước nhảy tango thực sự (cho dù trong một vài trường hợp là có). Người ta đôi khi cũng chơi nhạc tango, nhưng lại ở tốc độ nhanh hơn. Thời này, điệu tango được coi là tango Bắc Mỹ (North American Tango) để đối lập với "Rio de la Plata Tango". Năm 1914, những thể loại tango gần với điệu nhảy gốc hơn được phát triển, đi cùng với nó là một vài biến thể như tango Albert Newman's "Minuet".

Tại Ac-hen-ti-na, cuộc đại suy thoái năm 1929 và những hạn chế sau sự sụp đổ của chính phủ Hipólito Yrigoyen năm 1930 đã làm điệu tango trở nên suy tàn. Những giá trị của nó đã được bảo vệ và trở nên phổ biến rộng rãi hơn, là một trong những niềm tự hào của quốc gia dưới thời chính phủ Juan Perón. Tango lại suy tàn một lần nữa vào thập kỷ 1950 do suy thoái kinh tế và bởi chế độ quân sự độc tài đã ngăn cấm những cuộc tụ tập nơi công cộng, sau này nữa là do sự phổ biến của nhạc Rock 'n Roll.

Năm 2009, điệu tango được UNESCO tuyên bố là một trong những di sản văn hóa phi vật thể của thế giói.

Các phong cách Tango[sửa | sửa mã nguồn]

Điệu Tango có rất nhiều phong cách, được phát triển ở những vùng miền khác nhau của Ác-hen-ti-na cũng như trên thế giới, đáp ứng các yêu tố văn hóa đa dạng, từ việc phục vụ đám đông cho đến trình diễn thời trang. Hầu hết các phong cách này đều được nhảy với tư thế "mở", nghĩa là luôn có khoảng cách giữa người "dẫn" và người "theo", hoặc tư thế "đóng", nghĩa là người dẫn và người theo kết nối với nhau từ rất gần (ngực - ngực) (tango Ác-hen-ti-na) cho đến xa hơn một chút (phần trên của bắp dùi, hông) như tango Mỹ và tango quốc tế.

Tango cổ điển[sửa | sửa mã nguồn]

Những điệu nhảy và điệu nhạc Tango đầu tiên được gọi là tango criollo hay đơn giản là tango. Ngày nay, có nhiều phương pháp nhảy bao gồm cả Tango Argentine, Tango Uruguayan và Tango cổ điển. Tango Argentine được xem là gần với điệu nhảy ban đầu tại ArgentinaUruguay hơn, dù không có bằng chứng về dạng ban đầu của điệu nhảy còn tồn tại.

Tango quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tango là một trong những điệu nhảy cơ bản của khiêu vũ quốc tế. Kiểu nhảy tango hiện đại này được phát triển ở Anh trước Chiến tranh Thế giới lần 2,phần nhiều là từ công sức của Monsieur Pierre, một vũ sư người Pháp sống tại London.

Điệu Tango được sử dụng thường xuyên trong các cuộc thi khiêu vũ quốc tế.[3][4]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ http://news.bbc.co.uk/2/hi/entertainment/8282781.stm
  2. ^ http://www.lanacion.com.ar/nota.asp?nota_id=1180674
  3. ^ Silvester, V. 1993. Modern ballroom dancing. London.
  4. ^ Moore, Alex 2002. Ballroom Dancing, 10th edition, London.

Nguồn khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thompson, Robert Farris 2005. Tango: the art history of love. Knopf, New York. ISBN 978-1400095797.
Thomson is Professor of Art at Yale University. He started his career with an article on Afro-Cuban dance and music published in 1958, and has devoted his life to the art history of the Afro-Atlantic world.
  • Collier, Simon and Artemis Cooper 2007. ¡Tango!: the dance, the song, the story. Thames & Hudson, London. ISBN 978-0500279793
  • Denniston, Christine 2007. The meaning of Tango: the story of the Argentinian dance. Anova. ISBN 978-1906032166

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Tango tại Wikimedia Commons