Tau Ceti

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tau Ceti
Vị trí của Tau Ceti
Vị trí của sao Tau Ceti (đánh dấu bởi quầng vàng xung quanh) trong chòm sao Kình Ngư.
Dữ liệu quan sát
Kỷ nguyên J2000      Xuân phân J2000
Chòm sao Cetus
Xích kinh 01h 44m 04.0829s[1]
Xích vĩ −15° 56′ 14.928″[1]
Cấp sao biểu kiến (V) 3.50 ± 0.01[2]
Các đặc trưng
Kiểu quang phổ G8.5 V[1]
Chỉ mục màu U-B +0.22[1]
Chỉ mục màu B-V +0.72[1]
Kiểu biến quang None
Trắc lượng học thiên thể
Vận tốc xuyên tâm (Rv) −16.4[1] km/s
Chuyển động riêng (μ) RA: −1721.94[1] mas/năm
Dec.: 854.17[1] mas/năm
Thị sai (π) 273.96 ± 0.17[2] mas
Khoảng cách 11.905 ± 0.007 ly
(3.65 ± 0.002 pc)
Cấp sao tuyệt đối (MV) 5.69 ± 0.01[2]
Chi tiết
Khối lượng 0.783 ± 0.012[2] M
Bán kính 0.793 ± 0.004[2] R
Hấp dẫn bề mặt (log g) 4.4[3]
Độ sáng 0.52 ± 0.03[4] L
Nhiệt độ 5,344 ± 50[5] K
Độ kim loại 22–74%[3][6]
Tự quay 34 days[7]
Tên gọi khác
Durre Menthor,[8][9] 52 Ceti, HD 10700, HR 509, BD-16°295, GCTP 365.00, GJ 71, LHS 146, LTT 935, LFT 159, SAO 147986, LPM 84, FK5 59, HIP 8102.[1]

Tau Ceti là một ngôi sao ở chòm sao Kình Ngư về mặt quang phổ giống Mặt Trời nhưng chỉ bằng 78% trọng lượng Mặt Trời. Với khoảng cách 12 năm ánh sáng so với Hệ Mặt Trời, nó là một ngôi sao khá gần. Tau Ceti thiếu kim loại và do đó người ta cho rằng nó ít có khả năng có các hành tinh đá. Các quan sát đã phát hiện lượng bụi gấp mười lần xung quanh Tau Ceti hơn ở Thái Dương Hệ. Ngôi sao này có vẻ ổn định với ít biến thể sao.

Các phương pháp đo tốc độ sao và tia vẫn chưa phát hiện ra các các vật thể xoay quanh ngôi sao Tau Ceti, but given current search refinement, this only excludes substellar companions such as large brown dwarfs. Do nó có nhiều bụi bay quanh, bất cứ hành tinh nào bay quanh Tau Ceti sẽ phải chịu ảnh hưởng nhiều hơn Trái Đất. Tuy nhiên, do nó có đặc tính tương tự như Mặt Trời, Tau Ceti đã mang đến sự quan tâm rộng rãi của con người. Do tính ổn định của sao này và có điểm tương đồng so với Mặt Trời, nó luôn là mục tiêu cho cuộc tìm kiếm Extra-Terrestrial Intelligence (SETI), và nó đã xuất hiện trong một số tác phẩm văn học giả tưởng.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tiếng Trung, sao này được gọi là Thiên Thương (天倉).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b c d e f g h i “LHS 146 – High proper-motion Star”. SIMBAD. Centre de Données astronomiques de Strasbourg. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2009. 
  2. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên aaa494
  3. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên strobel
  4. ^ Pijpers, F. P. (2003). “Selection criteria for targets of asteroseismic campaigns”. Astronomy and Astrophysics 400: 241–248. doi:10.1051/0004-6361:20021839. 
  5. ^ Santos, N. C.; Israelian, G.; García López, R. J.; Mayor, M.; Rebolo, R.; Randich, S.; Ecuvillon, A.; Domínguez Cerdeña, C. (2004). “Are beryllium abundances anomalous in stars with giant planets?”. Astronomy and Astrophysics 427: 1085–1096. doi:10.1051/0004-6361:20040509. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2007. 
  6. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên mnras286
  7. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên ApJL457
  8. ^ Malin, David (8 tháng 6 năm 2008). “Cetus”. David Malin Images. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2009. 
  9. ^ Anonymous. “Cetus”. Omnipelagos.com. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2009.  < الدرر المنثور al durr' al-manthūur The Scattered Pearls (of the Broken Necklace).

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]