The Fear (bài hát)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
"The Fear"
Đĩa đơn của Lily Allen
từ album It's Not Me, It's You
Mặt B "Fag Hag", "Kabul Shit"
Phát hành 26 tháng 1 năm 2009
Định dạng CD đĩa đơn, download nhạc số
Thể loại Electropop, synthpop
Thời lượng 3:27
Hãng đĩa Regal
Sáng tác Lily Allen, Greg Kurstin
Sản xuất Greg Kurstin
Thứ tự đĩa đơn của Lily Allen
"Drivin' Me Wild"
(2007)
"The Fear"
(2009)
"Not Fair"
(2009)
Video âm nhạc
"The Fear" trên YouTube

"The Fear" là bài hát của nghệ sĩ thu âm người Anh Lily Allen, được viết bởi Allen và Greg Kurstin. Ca khúc đã được phát hành làm đĩa đơn mở đầu cho album phòng thu thứ hai của cô, It's Not Me, It's You. Lúc đầu, "Everyone's At It" đã được thông báo làm đĩa đơn đầu tiên, nhưng đến phút chót, "The Fear" đã được chọn và đã phát hành ngày 26 tháng 1 năm 2009 dưới hãng Regal Recordings. Trước đó, demo của ca khúc đã được đăng trên Internet vào tháng 8 năm 2008, trên trang MySpace chính thức của Allen.[1]

Đĩa đơn đã lọt vào top 20 trên các bảng xếp hạng của một số nước châu Âu và ở Úc, đồng thời đạt vị trí quán quân trên UK Singles Chart 4 tuần liên tiếp.[2] Đây cũng là ca khúc thứ hai của Allen lọt vào U.S. Billboard Hot 100.[3] "The Fear" đã thắng giải Bài hát hay nhất của năm tại Virgin Media Music Awards 2010,[4], giải Bài hát hay nhất tại Q Awards 2009,[5] và hai giải Ivor Novello Awards 2010 cho ca khúc có nhạc và lời hay nhất và ca khúc được biểu diễn nhiều nhất.[6]

Nội dung[sửa | sửa mã nguồn]

Về âm nhạc, ca khúc này mang đậm chất electropop hơn so với các bài hát skareggae trước đó của Lily Allen. Bài hát được viết ở nhịp C, khóa Fa trưởng với tempo 136 nhịp/phút.[7] Cao độ của Allen hát từ Rê giáng đến Si giáng. Trong bài hát có câu "I'll look at the sun and I'll look in the mirror", ám chỉ đến tờ The SunThe Mirror, hai tạp chí tin tức lớn của nước Anh thường nhắc đến Allen.[8] About.com so sánh chất electropop của ca khúc này gần giống với "Stupid Girls" của Pink.[9]

Thành công thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

"The Fear" xuất hiện lần đầu trên UK Singles Chart ở vị trí thứ 168, và 1 tuần sau (1 tháng 2 năm 2009), ca khúc tăng 167 bậc và đạt vị trí quán quân, thay thế "Just Dance" của Lady Gaga.[10] Gaga đã bình luận về điều này và nói rằng cô hài lòng với ca khúc đã đánh bại vị trí quán quân của cô.[11] Ca khúc đã trụ vững ở #1 trong suốt tháng 2 (4 tuần),[12] cho đến khi bị "My Life Would Suck Without You" của Kelly Clarkson đánh bại (1 tháng 3).[13] Đây cũng là đĩa đơn quán quân thứ hai của Allen ở Anh, sau đĩa đơn đầu tay "Smile" đạt vị trí quán quân năm 2006.[10][14] Trong tuần thứ ba đĩa đơn ở vị trí quân, album It's Not Me, It's You cũng đã đạt vị trí quán quân trên UK Albums Chart[15] và Allen đã phát biểu: "Thật tuyệt vời khi được dẫn đầu cả hai bảng xếp hạng, đặc biệt là cùng thời điểm giải Brit đang được tổ chức để vinh danh những cái tuyệt vời nhất của âm nhạc nước Anh."[16] Ở Úc, đĩa đơn cũng đã thể hiện sự thành công của mình khi đạt đến vị trí số 3 và trụ lại trong top 10 8 tuần sau đó,[17] đồng thời được chứng nhận Bạch kim của Hiệp hội Công nghiệp thu âm Úc.[18] Ở Ireland, "The Fear" có mặt ở vị trí 35, leo lên từ từ đến vị trí số 5 và sau đó nhanh chóng rơi khỏi bảng xếp hạng.[17]

Ca khúc cũng rất thành công ở châu Âu, lọt vào top 20 ở rất nhiều quốc gia,[17] đạt vị trí số 3 trên European Hot 100.[19] Ở New Zealand, Allen có được đĩa đơn top 40 thứ tư của mình với "The Fear": đĩa đơn này đã đạt vị trí 14.[17]

Ở Bắc Mỹ, "The Fear" chỉ đạt được thành công vừa phải, đứng ở vị trí 80 trên Billboard Hot 100 và là đĩa đơn thứ hai của Allen lọt vào xếp hạng tại Mỹ.[20] Dù đạt thứ hạng thấp ở bảng xếp hạng chính, đĩa đơn lại đạt vị trí quán quân trên Hot Dance Club Play trong 1 tuần và là đĩa đơn quán quân đầu tiên của Allen trên bảng xếp hạng này.[21] Ở Canada, nó đạt được vị trí 57 cuối năm 2008, rơi khỏi bảng xếp hạng 7 tuần rồi trở lại vào năm 2009 ở vị trí 33.[17] Tại đây, đĩa đơn đã được chứng nhận Vàng bởi Hiệp hội Công nghiệp thu âm Canada với doanh số trên 20.000 bản.[22]

Video âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Lily Allen với chú gấu teddy trong video âm nhạc "The Fear".

Video âm nhạc cho "The Fear" được quay chủ yếu tại công viên Wrest Park ở Bedfordshire, Vương quốc Anh[23] và do Nez đạo diễn.[24] Nó được phát lần đầu ở Anh ngày 4 tháng 12 năm 2008 trên Channel 4.[25] Trong video, Lily Allen hát trong một ngày nắng đẹp với những hình ảnh đồ vật buộc treo lơ lửng từ không trung như bóng bay và gấu teddy. Sau đó cô bước vào một căn nhà, hát và múa cùng các nam vũ công và các đồ vật biết nhảy múa.[24]

Chi phí cho việc thực hiện video được thông báo là £50.000.[26]

Danh sách bài hát và định dạng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Download nhạc số[27]
  1. "The Fear" — 3:26
  2. "Fag Hag" — 2:57
  3. "Kabul Shit" — 3:45
  • CD Đĩa đơn Anh / Úc[28]
  1. "The Fear" — 3:26
  2. "Fag Hag" — 2:57
A. "The Fear" — 3:26
B. "Kabul Shit" — 3:45
  1. "The Fear" (Fearless Mix)
  2. "The Fear" (Runnin' Mix)
  1. "The Fear" (Original Mix) — 3:26
  2. "The Fear" (StoneBridge Radio Edit) — 3:26
  3. "The Fear" (Wideboys Prime Time Radio Edit) — 3:56
  4. "The Fear" (Dresden & Johnston Radio Edit) — 3:35

Danh sách thực hiện[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hát chính — Lily Allen
  • Sáng tác — Lily Allen và Greg Kurstin
  • Sản xuất — Greg Kurstin
  • Trợ lí kĩ thuật – Alex Dromgode
  • Hòa âm — Greg Kurstin
  • Master bởi Geoff Pesche
  • Khác — Todd Interland

Xếp hạng và doanh số[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng (2009) Vị trí
cao nhất
Australian ARIA Singles Chart[17] 3
Austrian Singles Chart[17] 20
Belgian (Flanders) Singles Chart[30] 6
Belgian (Wallonia) Singles Chart[30] 5
Canadian Hot 100[17] 33
Danish Singles Chart[17] 20
Dutch Top 40[17] 29
European Hot 100 Singles[19] 3
Finnish Singles Chart[17] 14
French Singles Chart[17] 15
German Singles Chart[17] 12
Irish Singles Chart[17] 5
Japan Hot 100 Singles[17] 9
New Zealand Singles Chart[17] 14
Swedish Singles Chart[17] 30
Swiss Singles Chart[17] 14
UK Singles Chart[12] 1
U.S. Billboard Hot 100[31] 80
U.S. Pop 100[31] 39
U.S. Hot Dance Club Songs[21] 1

Doanh số và chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Chứng nhận Doanh số
Úc Bạch kim[18] 70.000+
Canada Vàng[22] 20.000+

Xếp hạng cuối năm[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng Vị trí
Australian Singles Chart[32] 22
UK Singles Chart[33] 8
Tiền nhiệm:
"Just Dance" của Lady Gaga
hợp tác với Colby O'Donis
Đĩa đơn quán quân UK Singles Chart
1 tháng 2 năm 2009 - 28 tháng 2 năm 2009
Kế nhiệm:
"My Life Would Suck Without You"
của Kelly Clarkson
Tiền nhiệm:
"Diva" của Beyoncé
Đĩa đơn quán quân Billboard Hot Dance Club Play
4 tháng 4 năm 2009 - 11 tháng 4 năm 2009
Kế nhiệm:
"God In Me" của Mary Mary
hợp tác với Kierra Sheard

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Lily joins Ellen in her bathroom”. Lily Allen Music. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2010. 
  2. ^ Mills, Scott (1 tháng 12 năm 2008). “Lily Allen comes into see Scott Mills with her brand new single 'The Fear'”. BBC. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2009. 
  3. ^ Johnson, Chris; Cable, Simon (17 tháng 2 năm 2010). “Brit Awards 2010: Lily Allen finally wins her first Brit as emotional Lady Gaga cleans up with three gongs”. Daily Mail (Associated Newspapers). Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2010. 
  4. ^ “The Fear by Lily Allen”. Songfacts.com. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2011. 
  5. ^ “Lily, Lady Gaga and Muse Celebrate Q Awards”. Sky News. British Sky Broadcasting. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2011. 
  6. ^ Tim, Masters. “Lily Allen wins three Ivor Novello songwriting awards”. BBC News (London: BBC). Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2011. 
  7. ^ “Lily Allen - The Fear Sheet Music”. Bản nhạc. Afred Music Publishing. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2011. 
  8. ^ “Music Lesson - Lily Allen 'The Fear'”. LearnEnglish. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2011. 
  9. ^ Slomowicz, Ron (26 tháng 1 năm 2009). “Song of the Day: Lily Allen - "The Fear"”. about.com. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2011. 
  10. ^ a ă “Lily Allen Asserts Control Over U.K. Charts”. Billboard. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2009. 
  11. ^ “Lily is GaGa's number one”. MTV.co.uk. Viacom. Truy cập ngày 9 tháng 11 năm 2009. 
  12. ^ a ă “Chart Stats - Lily Allen - The Fear”. Official Charts Company. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2009. 
  13. ^ “The Prodigy album invades chart”. BBC News. 1 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2009. 
  14. ^ “Ask us about:Music details”. Match of the Day (BBC News). 9 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2009. 
  15. ^ “Lily Allen TV diary”. Lily Allen Music. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2009. 
  16. ^ “Lily Allen makes it a double first”. EMI. Terra Firma Capital Partners. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2010. 
  17. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô “Lily Allen - The Fear - Music Charts”. αCharts.us. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2010. 
  18. ^ a ă “ARIA Charts - Accreditations - 2009 Singles”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2009. 
  19. ^ a ă “European Hot 100 Singles”. Billboard. 7 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2009. 
  20. ^ “Double Take - Kevin Rudd's The Fear”. CastTV. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2009. 
  21. ^ a ă “Dance/Club Play Songs”. Billboard. 4 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2009. 
  22. ^ a ă “Gold & Platinum Certification”. Canadian Recording Industry Association. Tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2009. 
  23. ^ “Episode 4: Pandora (music)”. Skins Music. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2010. 
  24. ^ a ă “The Fear - Lily Allen - Music Video”. MTV. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2009. 
  25. ^ “Lily Allen The Fear”. Top Music Videos. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2009. 
  26. ^ “Check out Lily on The Today Show”. Lily Allen Music. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2009. 
  27. ^ “Lily Allen - The Fear MP3 Downloads”. 7digital. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2009. 
  28. ^ a ă â “Lily Allen - The Fear - UK CD Single”. Discogs. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2009. 
  29. ^ “"The Fear" Remixes”. Capitol Records. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2009. 
  30. ^ a ă “"The Fear" peak positions”. ultratop.be. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2010. 
  31. ^ a ă “Lily Allen Albums & Songs Chart History”. Billboard. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2009. 
  32. ^ “ARIA Charts - End Of Year Charts - Top 100 Singles 2009”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2010. 
  33. ^ Gilbert, Ben (1 tháng 12 năm 2009). “Top 10 best-selling singles of 2009”. Yahoo! UK & Ireland. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2009. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]